Ngày 27/11/2025 hội thảo khoa học về chủ đề " Thờ HCM ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề đặt ra" đã tổ chức thành công trên mong đợi. Hội thảo đã không chỉ thu hút nhiều nhà khoa học đầu nghành trên các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, văn hóa dân gian,...
Ngày 27/11/2025 hội thảo khoa học về chủ đề " Thờ HCM ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề đặt ra" đã tổ chức thành công trên mong đợi. Hội thảo đã không chỉ thu hút nhiều nhà khoa học đầu nghành trên các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, văn hóa dân gian, tâm linh học và giá trị học, giá trị tôn giáo... mà còn có sự tham gia và đóng góp tham luận của hơn 10 đại diện các cộng đồng tin - thờ HCM trên cả nước.
Đây là một ngôi điện tư gia thờ HCM thuộc loại lớn trong tất cả các điện tư gia thờ HCM ở VN. đền được xây dựng trên dất tư của bà D tại xã Hải Minh, Hải Hậu, Nam định ( cũ) nay thuộc Hải Anh , Ninh Bình. Đền mang tên Thiên Phúc ( Phúc lớn từ trời/ Như trời). TRong đền trên thượng điện có đặt 117 pho tượng thờ. Gồm rất nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa và HCM được đặt ở vị trí trung tâm, trên cao nhất. Hội đoàn thờ HCM tại đây mang tên " Đạo đền ơn đáp nghĩa".
Đền Hòa Bình là một ngôi điện tư gia của gia đình bà Phạm Thị X. Theo bài trí trên điện thờ thì có thờ HCM, Liệt Sĩ và bộ ba TRúc Lâm, ngoài ra có thờ cả thổ địa và gia tiên của chủ điện. Gọi là đền, nhưng chỉ là một gian nhà nhỏ nằm trong cùng cấu trúc nhà ở của bà X. Điểm đặc biệt ở đền Hòa Bình là tại đây bà X có khả năng nói và viết một dạng ký tự tương đối khác lạ được gọi là chữ Thiên ( không phải chữ Hán, không phải chữ Nôm, không phải chữ quốc ngữ, nhưng cũng có nét khá giống chữ Nôm cổ, khi nghe phát âm của bà X thì giống như âm vùng Quảng Đông, Quảng Tây).
Đây là cuộc tiếp xúc quy mô rộng nhất của nhóm nghiên cứu đề tài cấp bộ thuộc Viện HLKHXHVN đối với cộng đồng thờ HCM ở Việt Nam nói chung và các tỉnh phía Nam nói riêng.
thờ chủ tịch HCM ở Việt Nam đã xuất hiện khoảng hơn 20 năm. Loại hình này đã từng bị các cơ quan chức năng đưa vào dạng đạo lạ, tà đạo và có nhiều ứng xử cực đoan. Từ năm 2011 Viện nghiên cứu tôn giáo với cách tiếp cận tôn giáo học, soi rọi từ các công bố quốc tế về những loại hình tương tự đã đưa ra khái niệm hiện tượng tôn giáo mới để định danh cho loại hình này. Mặc dù có khá nhiều các phân loại khác nhau về loại hình này và cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất giữa giới học thuật và giới quản lý về hiện tượng Thờ HCM ở Việt Nam. Người mắc kẹt ở giữa chính là các cộng đồng tin - thờ Hồ Chủ tích. Bài viết là một nghiên cứu mở màn cho chuỗi các nghiên cứu về thờ HCM ở Việt Nam. Bài viết đã được tuyển đăng trên tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 2 năm 2025. cùng hai bài viết khác của Nguyễn Thj Yên và Đố Thị Thanh Hương. Hy vọng các nghiên cứu này sẽ góp phần thay đổi nhận thức của các giới chức quản lý và cộng đồng về một loại hình tâm linh tôn giáo mới ở VN hiện nay.
Bài viết tập trung vào công bố một số tư liệu mới về một ngôi chùa đã mất hàng 100 năm tại Hà Nội – Chùa Cổ Sơn Tự có tên nôm là chùa Sưa/ Thưa. Với các tư liệu điền dã và tư liệu lịch sử, bài viết đã khẳng định về sự tồn tại trong lịch sử về một thực thể ngôi chùa có niên đại thời Lý Nhân Tông và nhân vật Từ Lan được thờ tại đây. Ngoài ra bài viết cũng cho thấy rõ giá trị của ngôi chùa trong hệ thống chùa thờ quốc sư Từ Đạo Hạnh và lễ hội chùa Láng.
Key word: chùa Thưa/ Sưa; chùa Láng, Từ Đạo Hạnh, Lễ hội chùa Láng
Khảo sát lễ Hội tại điện Huệ Nam trên sông Hương
Sau hơn 1 tháng thăm và làm việc giữa các nhà khoa học với các đoàn tu gia thờ tâm linh HCM đã cho thấy có nhiều nội dung cần được làm sáng tỏ về hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam Hiện nay.
Đây là bài viết về phủ bóng với cách tiếp cận tôn giáo học nhằm làm sáng tỏ vai trò và vị trí của phủ bóng trong tâm thức dân gian Kẻ Giày nói riêng và tâm thức tôn giáo nói chung. Bài đã đăng trên tạp chí nghiên cứu tôn giáo.
là một địa bàn với trữ lượng các cơ sở TNTG dày đặc nhưng Nam Định chưa bao giờ chú ý đến khía cạnh tận dụng nguồn lực TNTG để phát triển KT-XH. Bài viết dưới đây dựa trên cuộc khảo sát kéo dài 2 tháng của nhóm nghiên cứu về TNTG ở Nam định và tập trung vào các nội dung nguồn lực TNTG là gì, hiểu như thế nào về giá trị của TNTG với tư cách là nguồn lực để thúc đẩy phát triển kt- xh. đồng thời cũng chỉ ra vai trò của quản lý nhà nước trong việc phát huy nguồn lực TNTG.
Báo cao chuyên đề tại sinh hoạt khoa học ở viện nghiên cứu tôn giáo
sau 3 tháng triển khai từ điền dã cơ sở khắp các quận nội thành liên quan đến Thánh Láng; tổ chức sưu tầm và dịch thuật tài liệu liên quan. Có sự hỗ trợ của Thầy Thích tâm hiệp về tư liệu và đặc biệt sự hỗ trợ vô điều kiện của Đại Đức Thích Quảng Nghĩa và các Tự viện. Hội thảo " Vai trò của chùa Thưa trong hệ thống chùa thờ quốc sư Từ Đạo Hạnh" đã thành công trên mong đợi.
Đặc biệt hội thảo thu hút được Thiền sư, nhà nghiên cứu Phật học tiếng tăm Lê Mạnh Thát và nhiều Tu sĩ, các chuyên gia hàng đầu tham gia viết bài. CHùa Thưa mặc dù còn tồn tại rất khiêm tốn trong khu cơ quan của viện khoa học công nghệ giao thống số 1252 đường Láng, nhưng sau hội thảo này vị thế và tầm vóc của nó cùng Từ Nương ( vị thần chủ tại đây) đã vượt thời gian hàng chục thế kỷ để khẳng định vị thế của nó trong hệ thống chùa liên quan đến quốc sư Từ Đạo Hạnh.
Hội thảo đã được ba cơ quan truyền thông đưa tin là đài truyền hình Hà Nội, VTC 6 và Phật sự online. Toàn bộ kết quả của Hội thảo đã được tổng luận lại và đăng ở dưới đây.
hội thảo về Bến bạc và đền cô Bơ Bến Bạc đã không chỉ đem lại những kết quả nghiên cứu mới về Bến Bạc mà còn cho thấy mối liên hệ gắn bó hữu cơ giữa Bến Bạc với đền Cô Bơ và dòng chảy sông Hồng. Đặc biệt với các căn cứ, sử liệu đã tái hiện lại vị thế của làng Bạc với đủ cơ cấu Sĩ - Nông - Công - Thương và là làng nơi có cảng sông lớn ngay từ những năm đầu Công nguyên.
cuốn sách gồm 130 trang chia thành hai phần chính văn và phụ lục. Phần chính văn gồm ba mục lớn: I Vài nét khái quát về địa văn hóa quận Tây Hồ và vùng văn hóa Hồ Tây - Sông Hồng; phần II Di tích đền Cô Bơ Bến Bạc. cũng là nội dung chính của cuốn sách. Phần III: Dền cô Bơ Bến Bạc trong chiến lược phát triển du lịch tâm linh sông Hồng.
Cuối cùng phần phụ lục là các ảnh, tài liệu Hán văn phản ảnh, có liên quan đến Bên Bạc, Đền cô Bơ Bến Bạc.
Viết về thờ Nữ thần nói chung, về thờ mẫu ở VN nói riêng đã có khá nhiều các nghiên cứu được thực hiện dưới các dạng khác nhau như lược sử thần tích và bình luận (Đặng Văn Lung); Nghiên cứu mô tả dân tộc học có Bùi Văn Tam (2016); So sánh khái quát và nâng lên thành lý luận (Ngô Đức Thịnh 2014); Nghiên cứu ca từ nghi lễ (Barly Norton 2010 ); Nghiên cứu phân tích dưới góc độ nhân học, tâm lý học tôn giáo và tâm lý bệnh học (Nguyễn Ngọc Mai 2013), Nguyễn Thị Hiền (2011)…Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết đơn lẻ tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau của hình thức tôn giáo dân gian này (cả phương diện điện thần, ca từ, trang phục, bản hội….). Từ đó cho thấy đây là một loại hình tôn giáo dân gian rất đặc biệt. Đặc biệt cả phương diện thần tích và nghi lễ, nhưng làm nổi rõ giá trị khác biệt của nó thì gần như chưa có một tổng kết riêng biệt nào. Bài viết này tập trung vào tìm hiểu những giai thoại, thần tích, câu chuyện lưu truyền trong các tài liệu đã có về nhân vật thần Mẫu Liễu Hạnh. Kết hợp với cách thức thờ phụng, niềm tin của tín đồ vào Thánh mẫu; phương thức thực hành nghi lễ và những giá trị thặng dư mà thông qua việc thờ cúng, tham gia bản hội thực hành nghi lễ thờ Mẫu các cá nhân, cộng đồng có được. Từ những cứ liệu này bài viết chắt lọc và làm nổi lên những giá trị khác biệt của hiện tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh, thông qua đó góp phần lý giải sức sống mãnh liệt của hiện tượng thờ Mẫu ở VN.
Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nói rõ Đặng Thị Huệ sinh năm nào, chỉ biết người đẹp Kinh Bắc mất năm 1783. Đặng Thị Huệ xuất thân là cô gái con nhà nho ở làng Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Gia lâm ngoại thành Hà Nội). Mặc dù trong chính sử phê phán về nàng rất khe khắt, nhưng nhân dân quê...