Bảo tồn làng cổ ven sông Hồng: gìn giữ hồn cốt ký ức và phương thức sống của cộng đồng

Đứng trước kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội về dự án di dời các làng cổ ven sông Hồng để thiết kế mô hình : trục đại lộ cảnh quan sông Hồng" đã làm dấy lên rất nhiều hoang mang trong dân chúng các làng có liên quan và nhiều trí thức yêu văn hóa Thăng Long. Bài Viết của tác giả Ngô Thị Lan phương đã tập trung vào các khía cạnh giá trị sinh thái, văn hóa và lịch sử các làng cổ ven sông như một dữ liệu sống về ký ức Thăng Long - Hà Nội cần được gìn giữ cho con cháu muôn đời sau.

 
Hệ thống làng cổ dọc dải phù sa sông Hồng và sông Đuống không đơn thuần là những khoảng không gian cư trú địa lý, mà là nơi khởi nguồn và lưu giữ hồn cốt văn hóa Thăng Long nghìn năm văn vật. Nơi đây ẩn chứa một mạng lưới sinh kế chằng chịt, tri thức dân gian, thiết chế tự quản và nghi lễ cổ truyền. Giá trị nổi bật nhất của di sản ven sông không chỉ nằm ở mái đình rêu phong hay nếp nhà cổ, mà hiện hữu trong năng lực tự vận hành của cộng đồng – cách người làng nương tựa vào dòng nước, ứng xử với biến động thiên nhiên và đi qua những khúc ngoặt lịch sử. Nếu các thực hành văn hóa bị mai một, làng sẽ nhanh chóng biến thành những khoảng không gian xơ cứng: có vết tích lịch sử nhưng thoái hóa mất phần đời sống thực tại. Do đó, bảo tồn di sản ven sông không phải là bảo quản những vật thể đóng khung, mà là bảo vệ phương thức sống và dải ký ức đang tiếp nối của người dân.
 
Dải đất phù sa này đại diện cho một dạng di sản đặc thù: di sản nằm ngay trong nếp sinh hoạt, trong ứng xử với sông - mùa - nhà ở và trong hệ ký ức xóm làng. Chiều dài lịch sử của dải đất thể hiện rõ qua làng Hải Bối hai thiên kỷ còn lưu dấu trống đồng Đông Sơn; làng Tráng Việt phụng thờ Ả Lự Minh Vương – vị tướng tài thời Hai Bà Trưng; làng Thúy Lĩnh với hội vật cầu truyền thống có từ thời chống Tống; làng Bắc Biên từng dời nếp sống, nhường đất An Xá để vua Lý Công Uẩn dời đô; hay đình Thượng Cát nửa thiên kỷ tuổi vẫn gìn giữ 33 đạo sắc phong đánh giặc cứu nước. Song hành với chiều sâu lịch sử là mạch chảy kỹ nghệ và sắc thái Tết Thăng Long: nếu Bát Tràng giữ tinh hoa gốm sứ thì Nhật Tân, Tứ Liên lại lưu giữ cái hồn ngày Tết qua tri thức uốn cây, nuôi hoa trên bãi bồi.
 
Bản sắc của làng cổ ven sông được bồi đắp trên ba tầng cấu trúc gắn kết chặt chẽ. Đầu tiên là không gian cư trú nén và nhịp sinh hoạt bờ bãi. Ở Hải Bối, Tráng Việt, nếp làng nương theo bãi bồi, kè sông và lối đi mùa nước. Tại Thúy Lĩnh, Vạn Phúc, Bắc Biên, Thượng Cát, không gian mang tính nén đặc trưng của mô hình nhà - vườn - xưởng, tạo nên nhịp sống hối hả nhưng hài hòa, trong khi Bát Tràng lại thể hiện mô hình đô thị nông thôn tích hợp: vừa là chốn an cư, vừa là công xưởng sản xuất. Tầng thứ hai là thiết chế tự quản và nề nếp cộng đồng. Văn hóa làng không tồn tại rời rạc mà vận hành qua quy ước, hương ước, sự phân công trách nhiệm và tính đồng thuận của các họ tộc, hội nghề, giữ cho nề nếp gia phong không bị đứt gãy. Tầng cuối cùng là thực hành văn hóa và sinh kế theo chu kỳ, nơi tri thức canh tác đào quất Nhật Tân phụng sự đúng lịch mùa, kỹ nghệ Bát Tràng lưu giữ thao tác nghệ nhân, và các dịch vụ nông nghiệp bãi bồi Vạn Phúc, Thượng Cát giúp tri thức dân gian được trao truyền tự nhiên qua lao động hàng ngày.
 
Lịch sử của làng không nằm yên trên trang sách mà đập cùng nhịp đập đời sống thường nhật. Mối tình nghĩa một thiên kỷ giữa hai làng Nga My – Vạn Phúc với tập tục giao hảo 40 năm một lần là bằng chứng sống động cho thấy cơ chế giữ lịch sử không nằm ở vài công trình kiên cố, mà nằm trong mạng lưới con người – ký ức – nghi lễ. Khi người dân rời xa bờ sông, đứt đoạn với sinh kế và thực hành tâm linh cổ truyền, lịch sử sẽ lập tức suy chuyển thành câu chuyện kể suông thay vì một ký ức đang sống. Không chỉ mang giá trị tinh thần với các nghi thức rước nước hay múa lễ chữ ở Chử Xá, các làng ven sông còn là thủ phủ kỹ nghệ từng nuôi sống Thăng Long xưa như lụa Cổ Đô, mộc, đúc đồng, đồng thời là vùng nông nghiệp sinh thái trù phú bảo đảm nguồn sống cho đô thị. Về mặt phong thủy và cảnh quan, dải làng bãi bồi chính là lá phổi xanh, vành đai sinh thái tự nhiên giúp thành phố thoát nước, điều hòa khí hậu và ngăn chặn đà bê tông hóa.
 
Trong tiến trình phát triển mới, khi Hà Nội chuyển dịch tầm nhìn từ quay lưng sang hướng mặt vào dòng sông, việc bảo tồn các làng cổ đòi hỏi một tư duy quản trị minh triết. Với phương châm "phố trong làng, làng trong phố", việc giữ gìn nguyên vẹn cấu trúc không gian di sản sẽ biến các ngôi làng ven sông thành điểm tựa văn hóa và du lịch trải nghiệm, tránh triệt để việc giải tỏa trắng làm đứt gãy căn cước cộng đồng. Toàn bộ hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của các làng ven sông sẽ kết nối lại, trở thành hạt nhân của Trục văn hóa sông Hồng – một dải không gian sáng tạo bền vững, giữ cho Thăng Long - Hà Nội vừa hiện đại nhưng không bao giờ mất đi cội nguồn phù sa.
                                                                                                                                                          Ngô Thị Lan Phương
 

Làng Phúc Xá (Bắc Biên) từ đất tổ ở thành Đại La nay ra bãi giữa sông
 
 

Lễ Kỷ niệm Kết nghĩa 1000 năm Nga My – Vạn Phúc
 

Bát Tràng
 
Báo thể thao và văn hóa phỏng vấn TS Nguyễn Ngọc Mai
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy nội dung của trang web KhaiTue.Edu.Vn của Viện Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Phương Đôngnhư thế nào?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập45
  • Hôm nay106,195
  • Tháng hiện tại426,243
  • Tổng lượt truy cập11,208,334
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây