giá trị nhân văn của hiện tượng tin thờ Hồ Chí Minh
- Thứ ba - 07/07/2026 18:32
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Trong các nghiên cứu riêng về hiện tượng tin – thờ Hồ Chí Minh (HCM) có lẽ chưa có công trình nào bài bản có quy mô để thể hiện được hết các chiều cạnh của nó. Vì thế rất nhiều cộng đồng, kể cả nhà nghiên cứu, nhà quản lý, và cơ quan xây dựng chính sách còn chịu ảnh hưởng bởi tư duy báo chí nên nhìn nhận về hiện tượng này nếu không lệch lạc thì cũng quá ư e dè và thận trọng.
Bài viết này là kết quả chắt lọc từ những nghiên cứu quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, tổng hợp các câu chuyện cuộc đời, điều tra xã hội học của chúng tôi trong các năm 2023 – 2025. Với cách tiếp cận giá trị học, giá trị tôn giáo, bài viết tập trung vào làm rõ các giá trị nhân văn trong sinh hoạt tại gia và sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM ở Việt Nam. Hy vọng sẽ đem lại một cách nhìn khách quan hơn về hiện tượng mới mẻ này trong đời sống tâm linh, tinh thần ở VN.
Key word: Giá trị, giá trị nhân văn, tu gia, thờ HCM
ps: mọi tham khảo trích dẫn ở đây phải tuân thủ đúng luật bản quyền và các quy định về trích dẫn nguồn
Bài viết này là kết quả chắt lọc từ những nghiên cứu quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, tổng hợp các câu chuyện cuộc đời, điều tra xã hội học của chúng tôi trong các năm 2023 – 2025. Với cách tiếp cận giá trị học, giá trị tôn giáo, bài viết tập trung vào làm rõ các giá trị nhân văn trong sinh hoạt tại gia và sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM ở Việt Nam. Hy vọng sẽ đem lại một cách nhìn khách quan hơn về hiện tượng mới mẻ này trong đời sống tâm linh, tinh thần ở VN.
Key word: Giá trị, giá trị nhân văn, tu gia, thờ HCM
ps: mọi tham khảo trích dẫn ở đây phải tuân thủ đúng luật bản quyền và các quy định về trích dẫn nguồn
1.Vài nét khái quát về hiện tượng thờ HCM ở VN
Trong các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới ở Vn hiện nay hiện tượng tin – thờ Hồ Chí Minh (HCM)là hiện tượng được đánh giá là có nhiều nét giống với các loại hình tín ngưỡng truyền thống ở VN. Nhưng cũng chưa có nghiên cứu nào đầy đủ, hệ thống và toàn vẹn về loại hình này, vì thế nó vẫn bị đặt trong/ hiểu là các hiện tượng tôn giáo mới (New Riligious Moverment – NRM). Thờ HCM đã xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990 của thế kỷ trước và ngày càng lan rộng với nhiều tên gọi khác nhau: Đạo Bà Lương, Ngọc Phật HCM; tâm linh HCM, Đạo Bà Điền, Đạo đền ơn đáp nghĩa…Khảo sát của tác giả trong ba năm vừa qua cho thấy hiện tại tất cả các nhóm xã hội tin – thờ HCM hiện nay đã phân hóa thành 4 dạng:
Dạng thứ nhất là các cộng đồng sinh hoạt theo mô hình hội đoàn theo đơn vị hành chính tỉnh. Nhóm này đông nhất, thống kê khoảng trên 30 nghìn người, trong số này có nhiều người từng là hội viên của điện Hoàng Thiên Long, có người chưa từng về Hoàng Thiên Long bao giờ nhưng thấy “kinh sách” của Hoàng Thiên Long phù hợp nên tin theo và gia nhập hội đoàn. Nhóm này sinh hoạt theo tổ chức đoàn hội. Toàn bộ cộng đồng này chỉ thờ HCM tại gia, lấy cuốn “ Kinh thiên đại pháp đoàn tràng tu gia” là phương tiện chỉ dẫn mọi thực hành thờ Bác tại nhà”.
Dạng thứ hai: là các cộng đồng gồm các cá nhân đơn lẻ từ mọi địa phương tin – thờ HCM nhưng họ chỉ sinh hoạt theo 1 đền điện cố định như Đền Thiên Phúc (Nam Định), Điện Phúc Linh (Hải Dương); Đền Hòa Bình (Hải Dương); đền Ngọc Phật HCM (Sóc Sơn - HN) vào những ngày cố định trong năm như mùng 2/9; 27/7; 19/5…Đặc điểm của những điện thờ này là thờ HCM và nhiều danh nhân văn hóa cũng như các anh hùng dân tộc khác như Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi …cho đến liệt sĩ thời hiện đại. Các chủ điện thờ tư gia này cũng viết các tài liệu thơ, văn vần nhằm huấn dụ hội viên của mình về chủ tịch HCM, về vai trò của chủ điện và hướng dẫn các cách tu dưỡng, hoạt động tâm linh thờ Bác tại gia. Hoạt động tại điện thờ trong những ngày lễ cố định chủ yếu là dâng hương, múa hát, tri ân các gia đình thương binh, liệt sĩ. Ngoài ra họ cũng thường tổ chức các khóa lễ đi các nơi để lễ bái tại các di tích lịch sử liên quan đến HCM và bắt ma giải yểm bùa ở những nơi mà họ cho là có linh báo ở đó có bùa ngải của người Tàu trấn yểm.
Dạng thứ 3: Nhóm đoàn hội hoạt động độc lập, không tham gia với các hội đoàn theo đơn vị hành chính tỉnh, cũng không theo bất cứ một đền/ điện nào cụ thể. Nhưng đền/ điện nào cũng đến tham dự khi ở đó có sinh hoạt cộng đồng. Họ đến với tư cách quan sát, nghe, tham dự, mua tài liệu, tự chuẩn bị nhu yếu phẩm mang theo. Họ cũng có đoàn trưởng, nhưng không phải là người viết được thơ văn vì thế họ thường xuyên sưu tầm các tài liệu của đền điện khác để chắt lọc và tuân thủ theo những nội dung mà họ cho là đúng. Họ cũng thờ Bác tại gia.
Dạng thứ tư là các điện nhỏ mới thành lập, họ là những chủ thể tách ra đền điện gốc và lập riêng cơ sở mới cho mình. Họ tự cho mình có khả năng thông linh với HCM, họ cũng tập hợp các cá nhân tin theo thông qua các trang mạng xã hội, video tự làm tự đăng trên youtube. Nhóm này nhỏ hiện nay chỉ khoảng dưới chục cơ sở, số lượng người theo không nhiều, mỗi cơ sở khoảng trên dưới chục người. Đặc điểm nhóm này là chủ cơ sở cũng viết thơ, viết văn (được cho là Bác thông linh cho viết để răn dạy hội viên của mình và dự báo này kia). Ngoài ra họ còn thực hành các hoạt động bắt ma, trừ tà cho những người bệnh (được cho là bị ma ám).
Như vậy dù hoạt động theo mô hình nào thì 1) tư liệu, tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng hội viên (còn được gọi là kinh sách) là một yếu tố then chốt thể hiện bản chất, đường lối và những tuyên ngôn/ diễn ngôn của các cơ sở/ cộng đồng tin - thờ HCM và trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động ứng xử của nhóm xã hội này và 2) Các hoạt động tại gia và hoạt động tại cơ sở thờ HCM của cộng đồng trong những ngày lễ trọng sẽ cho phương thức thực hành sinh hoạt mang tính tôn giáo, tính xã hội và chức năng của các đền điện đó đối với các nhóm xã hội tin – thờ HCM.
Từ những đặc trưng này mà nội dung bài viết dưới đây sẽ tập trung luận giải về những nội dung của các tư liệu tài liệu lưu hành trong cộng đồng tin – thờ HCM và các hoạt động tại các cơ sở đền điện thờ HCM. Qua đó góp phần nhận diện và làm tường minh các nhận định về tính văn hóa, tính nhân văn và giá trị hữu dụng nhất định về hiện tượng tín ngưỡng đặc biệt này.
2. Giá trị học, giá trị tôn giáo tín ngưỡn và những giá trị nhân văn qua nghiên cứu tư liệu, tài liệu, hoạt động của cộng đồng và tại các điện tư gia thờ HCM ở VN
2.1. Gía trị học
Giá trị là một khái niệm trung tâm trong đời sống xã hội. Đối với nhiều tác giả (Tocqueville, Durkheim, Weber), các giá trị là nền tảng để giải thích tổ chức và thay đổi ở cấp độ xã hội cũng như cá nhân. Giá trị không chỉ quan trọng trong xã hội học, mà còn cả ở tâm lý học, nhân học và toàn bộ các bộ môn khoa học quan tâm đến chúng. Người ta dùng chúng để xác định các cá nhân và các xã hội, để theo dõi sự biến đổi qua dòng thời gian, để giải thích các động cơ ẩn dưới thái độ và ứng xử. Các giá trị là nguồn gốc của các luật, các quy tắc, các thỏa ước chi phối các nhóm người và các mối liên hệ giữa các cá nhân tạo ra . Có nhiều quan niệm khác nhau về các giá trị, nhưng sử dụng chúng trong khoa học xã hội thì thiếu một sự thỏa hiệp liên quan đến các giá trị nền tảng về nội dung và kết cấu của chúng. Vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị:
“Một niềm tin bền vững theo đó là một phương thức định hướng hoặc một mục đích tồn tại cá nhân và xã hội ưu thế hơn định hướng và mục đích khác” (M. Rokeach (1973: ); “Sự tán thành của các cá nhân đối với các đối tượng cho phép thỏa mãn các lợi ích thuộc vào khu vực tạo động cơ và đồng thời có một tầm quan trọng nhiều hay ít đối với cuộc sống hằng ngày” (Schwartz : 1987); “Điều con người đánh giá, cảm nhận, ước muốn nhận được, gửi gắm, xem như một điều lý tưởng” (B. Rezsohazy. 2006).
Phạm Minh Hạc trong một công trình nghiên cứu về giá trị, dựa trên những tiếp cận về hoạt động tâm lý của con người đã đưa ra những nhận định về giá trị và hệ giá trị như sau: “giá trị trong giá trị học là cái quy định mục đích của hoạt động và động cơ thức đẩy hoạt động đạt được mục đích đó”, theo ông từ các giá trị gốc mà hình thành nên những hệ giá trị như: giá trị xã hội (hòa bình, hợp tác, dân chủ…), giá trị dân tộc (độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ), với con người (phát triển con người, thu nhập, việc làm, quyền con người…) đây được coi là những giá trị cốt yếu, giá trị sống còn, giá trị nội tại (Phạm Minh Hạc. 2012: 32)
Như vậy giá trị được hiểu như thế nào vẫn phụ thuộc vào cách tiếp cận của từng nghành khoa học riêng biệt, có điểm chung giá trị là những ước định chung của cộng đồng hướng tới các chuẩn mực và có tác dụng điều tiết các ứng xử của cá nhân, cộng đồng và xã hội trong cuộc sống. Nói đến giá trị là hàm ý tích cực, nhân văn và mang tính bền vững, giá trị của một tổ chức hay cộng đồng cũng là thước đo để nhận diện, đánh giá về một cá nhân hay cộng đồng, xã hội, nó chứng tỏ sự tồn tại hữu ích của cá nhân hay cộng đồng đó đối với xã hội.
2.2. Giá trị tôn giáo, tín ngưỡng
Trong một nghiên cứu cấp nhà nước về giá trị tôn giáo tín ngưỡng của Viện Nghiên cứu tôn giáo đã đưa ra khái niệm: “giá trị tôn giáo là các nguyên lý, chuẩn mực định hướng và cung cấp ý nghĩa cuối cùng nhằm giải đáp các nhu cầu và lợi ích cơ bản của cuộc sống con người/tín đồ xuất phát từ chân lý mà tôn giáo tuyên bố sở hữu” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: 39).
Thực tế cho thấy các thực thể tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tâm lý và hành vi của con người cũng như tín đồ của các tôn giáo đó. Giá trị tôn giáo, với tư cách kép: vừa là giá trị tự thân, vừa là giá trị phổ quát, do đó là một trong những nhân tố quan trọng vừa tạo ra, vừa hấp thụ và phát triển hệ giá trị chung của xã hội, đặc biệt các tiểu hệ giá trị như: chân thực, luân lý và đạo đức, thẩm mỹ, tư tưởng, truyền thống…nó vừa là giá trị phổ quát ở trong các giáo lý tôn giáo, vừa là giá trị phổi quát của xã hội. Quan sát đời sống trên thế giới cho thấy ở nhiều quốc gia, cũng như ở Việt Nam, tôn giáo có một vai trò quan trọng, thậm chí chi phối các hệ giá trị xã hội thông qua các phương diện đạo đức, thẩm mỹ, triết lý và chính trị. Giá trị tôn giáo vì thế “tạo ra khả năng ổn định và liên kết xã hội, đứng hàng đầu trong xây dựng về lòng khoan dung và do đó nó tác động và ảnh hưởng rất lớn đến phát triển xã hội một cách bền vững” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016 : 40). Ở mặt phản chiều thì “giá trị tôn giáo cũng có thể đưa đến sự xung đột xã hội và bất khoan dung, đó là các phản giá trị tôn giáo” (Nguyễn Quốc Tuấn (2016: 34).
Từ nghiên cứu cấp nhà nước này mà 6 giá trị của tôn giáo được nghiên cứu, đúc kết gồm:
1) Giá trị chân lý, đây là giá trị cốt lõi nhất của tôn giáo. Tính ổn định lâu dài của thực thể tôn giáo trong lịch sử khẳng định giá trị chân lý, tạo ra ở người tin theo một niềm tin tuyệt đối vào thần minh, thượng đế hay lời dạy của người sáng lập (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: tr 40).
2) Giá trị luân lý và đạo đức. Thực thể tôn giáo ưu tiên đề ra các nguyên tắc của luân lý, đạo đức và lối sống của cá nhân và cộng đồng theo khuôn mẫu lý tưởng mà tôn giáo đó xây dựng. Đây cũng là giá trị trội vượt của hệ giá trị tôn giáo. Nhìn vào cách hành xử của tín đồ, có thể thấy rõ giá trị chân lý đã chi phối như thế nào đối với mối quan hệ giữa cuộc sống cá nhân và, cộng đồng. Cộng đồng tôn giáo chính là nơi biểu hiện rõ nhất các đặc trưng của luân lý và đạo đức, là môi trường truyền dạy và phổ biến giá trị luân lý và đạo đức. Do đó, khi đánh giá cộng đồng tôn giáo, nhất thiết phải xem xét phương diện giá trị luân lý và đạo đức như một ưu tiên của hành vi tôn giáo.
3) Giá trị ý thức hệ. Ý thức hệ được diễn tả như một hệ thống học thuyết và niềm tin, phán xét và giá trị, chuẩn mực luân lý. Giá trị này định hướng ý thức và hành vi hằng ngày của cá nhân và cộng đồng tín đồ. Ý thức hệ còn định hướng các cá nhân nhận thức, ý thức về một cộng đồng mà mình thuộc về để từ đó tạo ra những khả năng thanh lọc văn hóa bên ngoài mà hình thành bản lĩnh văn hóa cũng như ý thức về nguồn cội, giống nòi của các cá nhân cũng như cộng đồng.
4) Giá trị thẩm mỹ. Giá trị thẩm mỹ thể hiện trình độ biểu đạt thẩm mỹ và phương cách biểu đạt cái đẹp, cái vĩnh cửu và cái thiện theo giáo lý của các tôn giáo. Mặt khác, “giá trị thẩm mỹ của tôn giáo còn được biểu đạt trong/qua toàn bộ các “di sản - tài liệu” hữu hình (vật thể) và vô hình (phi vật thể) của thực thể tôn giáo từ kinh, sách giáo lý, kiến trúc, nghệ thuật, cho đến các nghi thức, quy tắc, ký hiệu, biểu tượng và hình tượng diễn tả và giáo lý cơ bản. Những biểu hiện này đều gợi ra ở tín đồ các xúc cảm riêng, mãnh liệt và niềm tin vô bờ vào cái thiêng mà họ tôn thờ” (Nguyễn Quốc Tuấn (2016: 41). Vì thế giá trị thẩm mỹ của tôn giáo là động lực thúc đẩy và tạo nên xúc cảm tôn giáo.
5) Giá trị nhân từ
Những giá trị này định hướng các tín đồ về lòng khoan dung, nhân ái, từ bi, không chấp chước, ở một khía cạnh nhất định nào đó thông qua những trải nghiệm, quy luật mà các tôn giáo rút ra, đã góp phần ngăn chặn bản năng của con người, giúp họ bình tâm và điều chỉnh lòng sân hận do bản năng và sự thiếu hụt trong giáo dục mang lại. Từ phương diện này cho thấy nếu nhìn ở Phật giáo thì những những giáo lý giáo luật đều hướng tín đồ thực hiện các phương châm tu tập, từ bi, hỉ xả, buông bỏ… Khi từ bi sẽ gợi mở lòng nhân, không sát sanh sẽ giúp tăng cường lòng nhân ái, khi buông bỏ sẽ chấm dứt lòng sân hận; những giáo thuyết về nhân quả, nghiệp báo sẽ hạn chế được tính ác trong mỗi con người.v.v…
6) Giá trị truyền thống
Thể hiện của giá trị này chính là sự tiếp nối liên tục, bền bỉ của những trao truyền về tình cảm, nhận thức và hành vi của con người nói chung và của người có niềm tin tôn giáo nói riêng. Giá trị truyền thống còn thể hiện ở “tính ổn định cao của các chuẩn mực và quy tắc ứng xử chỉ có thể hình thành và được trao truyền, kế thừa trong chuỗi thời gian và không gian ổn định, chính thực thể tôn giáo cho thấy nó giữ được tính ổn định đó” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: 42).
Như vậy, với hệ giá trị này của các tôn giáo ( bao gồm cả các loại hình tôn giáo dân gian) cho thấy khi nhận biết và đánh giá về bất cứ loại hình tôn giáo nào tốt – xấu; dở - hay; tà – chính thì điều đầu tiên là phải xem xét đến các giá trị / hệ giá trị tự thân mà nó xây dựng, đã và đang tuân thủ và phổ truyền trong cộng đồng, được thực thi trong đời sống đức tin cũng như đời sống cá nhân và cộng đồng đó mà đánh giá, nhận định chứ không nên vội vàng quy kết khi chỉ nhìn thấy những biểu hiện bề ngoài.
2.3. Những giá trị nhân văn trong qua nghiên cứu tư liệu, tài liệu, hoạt động của cộng đồng tin – thờ HCM và tại các điện tư gia thờ HCM ở VN
Từ những thông tin của các nghiên cứu đã có về các cộng đồng tin - thờ HCM ở Việt Nam, kết hợp với các nghiên cứu quan sát tham sự, trải nghiệm, tổng hợp từ tư liệu khảo sát thực tế các sinh hoạt hội đoàn của công đồng Tu gia thờ HCM ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy: mặc dù vẫn là những hội đoàn hoạt động tự phát, thậm chí chưa được công nhận và bảo hộ bởi luật pháp nhưng cộng đồng tin - thờ chủ tịch HCM ở Việt Nam đã và đang tuân thủ, phát huy khá nhiều những giá trị nhân văn tốt đẹp. Những giá trị đó thể hiện cả ở trong phương châm sống, lối sống, cam kết noi theo và tổ chức triển khai thành những hoạt động cụ thể có sức thu hút và tác động rất nhiều đến tâm lý, đức tin và lối sống của cộng đồng, cụ thể:
* Giá trị ý thức hệ thể hiện ở cách định vị trong ý thức cộng đồng tâm linh HCM về nguồn gốc lịch sử dân tộc Việt Nam
Người Việt Nam xưa cũng như nay, từ thượng cổ tới hiện đại thì ý thức về con cháu Rồng – Tiên đã trở thành ý thức hệ phổ cập. Nó không chỉ định vị trong ý thức của người dân Việt Nam về nguồn gốc giống loài đẹp đẽ (Tiên – Rồng) của mình mà thông qua đó hình thành một cam kết trăm sông cũng về một biển, 54 dân tộc cũng là anh em. Lịch sử đã chứng minh tinh thần đòan kết, đùm bọc nhau trong gian khó, chiến tranh và khắc nghiệt của thiên nhiên mà viết lên những trang lịch sử oai hùng của dân tộc. Vì thế con cháu Lạc – Hồng trở thành biểu tượng hết sức đẹp đẽ trong ký ức và tâm thức, ý thức dân tộc này.
Trong hầu hết các tư liệu, tài liệu lưu hành trong cộng đồng tin – thờ HCM và tại các cơ sở thờ chủ tịch HCM ở Việt Nam hiện nay mà chúng tôi có dịp khảo sát, tham dự các hoạt động sinh hoạt tập thể đều cho thấy các chủ điện nơi có thờ chủ tịch HCM đều nêu cao ý thức về nguồn cội con Lạc cháu Hồng của người Việt. Ý thức này được thể hiện ra ở rất nhiều hình tướng như tượng thờ Lạc Long Quân – Mẹ Âu Cơ ; Các diễn ngôn về truyền thuyết này thông qua các tư liệu, tài liệu ấn hành nội bộ được cộng đồng gọi là “kinh sách”, “kinh thiên”…do các chủ điện viết ra ( họ được cho là được nhận linh mà viết ra). Khảo qua 108 tập tư liệu tài liệu lưu hành nội bộ của 14 cơ sở thờ HCM ở khắp cả nước cho thấy xuất hiện tần xuất khá nhiều các câu thơ viết về truyền thuyết này. Cụ thể trong “Kinh thiên Đại pháp đoàn tràng tu gia” với 39 bài thơ, văn vần của hội đoàn Hoàng Thiên Long xuất hiện 28 lần các câu thơ hàm chứa nội dung cội nguồn dân tộc như: “ An Nam có thuốc chống phòng/ Nguồn Tiên Âu Lạc – phép trong tâm này” (Hoàng Thiên Long. 2021: V). Khi phê phán những người mượn bóng dáng thầy bà tướng số, tài liệu này ghi “Ai khen mượn xác bóng lồng/ Lãng quên gốc tổ tiên – rồng bước ra” ; “ Kinh tế chính trị muốn giàu đẹp sang/ Phải kính nguồn cội Văn Lang” hoặc “Cha mẹ dặn gấp mau mau/ Con rồng cháu Lạc đừng tranh giàu nghèo”. Khi viếng hồn liệt sĩ có câu “Ơn người chiến sĩ thành đồng/ An Nam Đại Việt, Tiên Rồng phù duyên” (Hoàng Thiên Long. 2021: 58, 72, 159, 287) . Trong tài liệu “ Kinh Pháp Hoa” của cơ sở 79 mùa xuân ở Vĩnh Phúc với 4 bài niệm xuất hiện tới 48 câu thơ nói về nòi giống Tiên - Rồng của dân tộc: “Việt Nam ta có chủ quyền/ Tổ tiên Rồng Lạc lưu truyền muôn năm” hoặc “ Con rồng cháu Lạc lưu truyền/ Chúng con có tổ, có tiên Lạc Hồng/ Lưu truyền lịch sử non sông/ Chung dòng huyết mạch Lạc Hồng Âu Cơ” (Điện 79 mùa xuân 2023: 2,9). Trong tài liệu “Đạo tâm linh đất Việt – Hành trình theo linh Bác Hồ, quyển 62” của cơ sở Phúc Linh từ (Hải Dương) soạn năm 2023 với 26 bài thơ, văn vần, xuất hiện tới 38 lần các câu thơ về nguồn gốc dân tộc như: “ Nhớ công lao người anh dũng/ Vì quê hương đất nước Lạc Hồng”… “ Đường tu đạo Việt sáng ngời/ Dân nước Âu Lạc nay thờ tỏ thông/ Học tu đúng đạo Tiên, Rồng / Bao đời để lại non sông rõ ràng/ Đường lối thờ tổ Văn Lang/ Mười chín triều đại đàng hoàng hơn xưa” (Phúc Linh Từ: 2023: 31, 49). Trong tài liệu “ Bản tường trình tâm linh đoàn Ngọc Phật thờ HCM huyện Sóc Sơn – TP HN” với nội dung biên chép về nhân sự, tổ chức và các hoạt động của cơ sở thờ HCM gồm 37 trang cũng xuất hiện 08 lần các câu văn, thơ viết về gốc tổ Văn Lang, Âu Lạc: “Văn thơ kinh sử giỏi thông/ Ca ngợi lịch sử cha Rồng mẹ Tiên”; hoặc “Tôi xin Ngọc Phật Chí Minh/ Cứu lấy con cháu Tiên, Rồng – Lạc – Âu”; “Tôi dạy đạo lý tôn thờ/ Uồng nước nhớ nguồn, nhớ đến tổ tông/ Nhớ về cha, mẹ Rồng, Tiên/ Mười tám triều đại Vua Hùng dựng nước Văn Lang”; hoặc “ Đạo Bác là đạo Rồng, Tiên/ để cho quốc thái, dân an muôn đời”. Trong tài liệu “ Đạo trời nước VN, Đạo tâm linh đặc biệt” của cơ sở đền Hòa Bình (Hải Dương) với 30 bài thơ được cho là linh giáng xuất hiện 50 câu thơ, khổ thơ viết về cội nguồn dân tộc: “Cha mẹ đã nhất lời thề/ sinh con trọn về trai gái một trăm” hoặc “ Nối đời dòng tộc quốc gia / Mẹ tổ nước nhà chính thực Âu cơ/ Cha lạc Long quân bấy giờ/ Sinh ra dòng tộc xưa giờ mai sau” (Đền Hòa Bình. 2013 – 2015: 24- 25).v.v…
Không chỉ dừng ở làm thơ tuyền truyền về cội nguồn dân tộc, có những cơ sở còn đặc biệt mời cả nghệ sĩ ưu tú của đoàn nghệ thuật quân đội về dàn dựng thành diễn xướng nghệ thuật cho hội viên của mình thực hành biểu diễn trong những ngày lễ trọng. Cơ sở thờ Ngọc Phật HCM của bà Vũ Thị Nh ở Hiền Minh (Sóc Sơn) Hà Nội là một điển hình. Ở đó diễn xướng về nguồn cội con Hồng cháu Lạc và lịch sử Việt Nam từ thượng cổ chí kim và công cuộc trường chinh giữ nước đã được một nghệ sĩ ưu tú dàn dựng và thể hiện bởi các hội viên tại đây biểu diễn rất sinh động trong các dịp lễ trọng mùng 2/9 hằng năm. Điều đáng lưu ý là với những con người chỉ có trình độ văn hóa tiểu học, tuổi cao, chủ yếu là nông dân, lại có cả những nhóm yếu thế trong xã hội như gay, tâm thần phân liệt…tham gia diễn xướng và tự họ thâu nhận được lịch sử dân tộc cảm nhận được giá trị của cuộc sống thông qua các tiết mục biểu diễn múa, hoạt cảnh về cuộc trường chinh giữ nước. Với một tầng lớp mà trình độ đào tạo hạn chế, lại chủ yếu tư duy về lịch sử dân tộc bằng truyền thuyết và ký ức thì một lối dạy sử bằng thơ, văn vần, bằng hình, bằng ngôn ngữ nghệ thuật cơ thể, ca từ… không chỉ tăng hiệu quả hấp thụ tri thức lịch sử mà còn góp phần điều chỉnh tâm lý sống và trạng thái cảm xúc của các cá nhân.
Những câu hát như: “Mẹ Âu cơ với bọc trăm con/ 50 xuống biển, 50 lên non, cả triệu cháu con hòa cùng một nhịp…” được hát một cách thích thú bởi cậu trai gay từng bị tâm thần phân liệt được gửi đến đây chữa bệnh bằng “Tâm Linh Bác” đã chứng minh một cách hiệu quả rõ rệt về tác dụng của nghệ thuật trong điều chỉnh trạng thái tâm lý con người. Những phỏng vấn sâu tại đây đã cho biết chính những tiết mục văn hóa, văn nghệ đó đã gim vào ý thức, tâm thức từng cá nhân về cội nguồn dân tộc.
Rõ ràng dù không hiểu hết được về giá trị ý thức hệ hay chức năng tập hợp quần chúng của tín ngưỡng tôn giáo nhưng quả thật các cơ sở thờ HCM hiện nay ở VN đã và đang thực thi một hoạt động thầm lặng nhưng ý nghĩa rất lớn lao đó là khắc vào tâm khảm các hội viên của mình ý thức về cội nguồn dân tộc – quốc gia – đất nước. Từ ý thức đó mà hàng loạt các ứng xử khác kéo theo như khuyến khích hội viên của mình tuân thủ nguyên tắc người Việt Nam thờ tổ Việt Nam. Với Phương châm: “trên thờ tổ nước, dưới tổ nhà” đã thành mực thước, quy cách thiết kế ban thờ trong các gia đình có thờ Hồ Chí Minh.
Ban thờ HCM tại gia đình luôn luôn được thiết kế theo khuôn mẫu: chính giữa là ảnh/ tượng Bác Hồ, hai bên là cờ búa liềm (cờ Đảng) và cờ Tổ Quốc, phía dưới là ảnh thờ hai bên gia tiên Nội – Ngoại (xem ảnh)
Ban thờ HCM ở tư gia của hội viên
Ban thờ HCM tại điện Đại Phúc Phúc
Thực tế này cho thấy các tài liệu lưu hành trong cộng đồng thờ HCM không chỉ là những công cụ hướng dẫn hội viên thực hành niềm tin thờ Bác mà qua việc đọc các tư liệu, tài liệu đó hằng ngày cùng với các hoạt động sinh hoạt hội đoàn tập thể tại các cơ sở thờ HCM dù vô thức hay hữu thức đã và đang thể hiện giá trị ý thức hệ rất rõ rệt đó là ý thức hệ về cội nguồn dân tộc, nó không chỉ thể hiện lòng tự hào về cội nguồn đẹp đẽ mang tính linh thiêng mà thông qua các bài văn vần các hội đoàn thờ HCM còn có ý thức rất cao về giáo dục lịch sử dân tộc trong cộng đồng của mình, đó là cách viết sử bằng thơ, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ hiểu mà Hồ Chủ Tịch đương thời khi còn sống thường áp dụng. Những câu thơ “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Lạc Long quân là tổ nước ta/ Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang…” được cộng đồng tin – thờ HCM thuộc nằm mình. Hay phương châm “Biết giữ gia phong, kính cội nguồn” (Phúc Linh Từ. 2022: 54) là thế ứng xử chính trong đời sống tâm linh cá nhân và gia đình tin – thờ HCM.
Ngoài ra trong rất nhiều các tư liệu lưu hành trong các nhóm tin - thờ HCM đều phản ánh khá nhiều các nội dung liên quan đến các cuộc chường trinh giữ nước của dân tộc trải qua các triều đại như kháng chiến chống Nguyên Mông: “Ba lần thắng trận lừng công/ Theo Trần Hưng Đạo lập công thắng thù/ Đất nước an thịnh ngàn thu/ Có công trời đất đắp bù cho dân” (Đền hòa Bình. 106). Như vậy, khi ta thừa nhận “các tôn giáo dân gian (tín ngưỡng) ở VN tồn tại như một tài liệu dã sử về quá trình hình thành và phát triển của các cộng đồng tộc người ở VN” (Nguyễn Ngọc Mai. 2016) thì cũng thấy rất rõ những nội dung này trong các tư liệu, tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng tin - thờ HCM. Nó không chỉ thể hiện rất rõ những thông tin về lịch sử đơn thuần mà còn có tác dụng giáo dục về lịch sử .
Không chỉ dừng ở việc thờ HCM, nhiều cơ sở phối thờ thêm các anh hùng dân tộc như đền Thiên Phúc (Hải Minh, Hải Hậu) thờ 117 pho tượng bao gồm cả HCM và các anh hùng dân tộc từ cổ chí kim; Đền Hòa Bình thờ HCM và bộ ba Trần Nhân Tông – Pháp Loa – Huyền Quang; Đền Hoàng Thiên Long thờ HCM và Đại tướng Võ Nguyên giáp và các anh hùng liệt sĩ…. Các tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng này có rất nhiều các bài thơ ngợi ca các anh hùng dân tộc đứng đầu là ngợi ca HCM và kể lại các sự kiện lịch sử cũng như các danh nhân văn hóa nước nhà: “ Côn Sơn Kiếp Bạc của Thần/ Thái sư Nguyễn Trãi, thánh nhân nước nhà/ Phật tổ Trúc lâm nước ta/ Ba phật trên tòa, thờ ở ba nơi; Chu Văn An, nổi tiếng hay/ Thầy giáo hiển thánh nước này Việt Nam” (Đền Hòa Bình. 2025: 17 – 18); “ Hai vua Bà trí kiên cường/ Dẹp giặc Đông Hán phơi xương đầy đường/ Triệu Trih dẹp Ngô tai ương Lý Bí đánh giặc Lương chết nhiều” (Nguyễn Thị Huệ. Văn hóa giáng linh xây dựng, 9:50); Phụ nữ nước Việt sáng ngời lương tâm/ Hai vua bà đã cầm quân/ Chiêu binh luyện tướng chuyên cần khắp nơi/ Khi giặc kéo đến như ruồi/ Bà đã vùng dậy để thời diệt ngay… (Nguyễn Thị Huệ. Văn hóa giáng linh xây dựng. tập 9: 73).
Khi nghiên cứu về tôn giáo dân gian VN ta thấy biểu hiện rõ rệt nhất là sự hiện diện của tục thờ vua tổ và các anh hùng, có danh, vô danh mà các ngôi đền, đình đang lưu giữ hiện nay như một bằng chứng hùng hồn về một chặng đường đấu tranh, xây dựng và gìn giữ độc lập dân tộc. Quan trọng hơn sự thật đó còn là sự khẳng định quyền sở hữu, quyền hùng cứ một phương của cư dân VN từ thủa Lạc Việt. Nối tiếp Hùng, Thục và sau này là hàng loạt các đền thờ vua Đinh – Lê – Lý – Trần – Nguyễn đã trở thành những điểm mốc của lịch sử dân tộc VN, đánh dấu những chặng đường phát triển và tự hoàn thiện của một dân tộc từ chỗ chỉ là những thế lực địa phương đơn lẻ thành quốc gia quân chủ tập quyền. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đóng một cái đinh trong ý thức hệ của người dân VN về tinh thần độc lập, tự cường và ý chí không chịu khuất phục ngoại bang. Tinh thần đó thể hiện khá rõ rệt trong “Nam quốc sơn hà” của thế kỷ X đã “phản ảnh ý thức tự chủ cao độ của tập đoàn cư dân sông Hồng” (Tạ Chí Đại Trường. 2011: 32). Khi ta thừa nhận giá trị này ở các tôn giáo dân gian thì việc tin và thờ HCM ở Việt Nam hiện nay cũng chính là tiếp nối dòng chảy thờ người có công với nước. Việc sáng tác những bài thơ, văn vần ngợi ca HCM hay các anh hùng, nhà văn hóa của dân tộc của các cơ sở thờ HCM cũng chính là những biểu hiện của ý thức hệ về nòi giống, về lịch sử anh hùng của dân tộc và lòng tự hào với những trang hào kiệt nổi lên như một dòng chảy xuyên suốt qua các bài văn vần!.
* Giá trị luân lý và đạo đức thể hiện ở những chiều kích ứng xử với người có công và hướng hội viên tu dưỡng theo đạo đức HCM
Giá trị luân lý và đạo đức cũng là một trong những giá trị nổi trội của các tín ngưỡng, tôn giáo. Ở khía cạnh này các tôn giáo thông qua giáo lý, giáo luật của mình đã tạo ra không chỉ những khuôn mẫu hình ảnh biểu tượng về đạo đức của giáo chủ mà còn bằng những kinh bổn răn dạy và kích hoạt các bản tính lương thiện ở con người, dùng giáo luật để khuôn bó tín đồ thực hành những hành vi lương thiện hướng đến đời sống đạo đức. Các nội dung sinh hoạt của hội đoàn của các cơ sở tin – thờ HCM cũng theo chiều hướng ấy. Hầu hết các cơ sở không có giáo lý, giáo luật mà chỉ có các bài thơ, văn vần ngợi ca HCM như một biểu tượng về đạo đức cao cả mà bất cứ ai tin – thờ Bác đều phải theo: “ Cúi đầu công Bác con ơn/ Tích cao như núi Thái Sơn hiền hòa”; “Đường cách mạng phong trào gió cuốn/ Chấp phong ba cuồn cuộn tiến lên/ Đường cách mạng tin tưởng vững bền/ Đường Đảng Bác làm nền móng rộng”; “Dựng thờ quyết giữ uy linh/ Tinh thần nhân thiện – Hồ Chí Mimh tên vàng” (Hoàng Thiên Long. 2021: 174, 220, 306). Ơn Bác, nguyện sống và làm theo tấm gương đạo đức của HCM cũng chính là mục tiêu, chương trình hành động, chủ đề các cuộc thi mà Đảng và nhà nước cùng các tổ chức chính trị xã hội phát động rầm rộ trong hơn 20 năm trở lại đây. Vậy thì tuyên truyền điều này, cách này ở các sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM là đáng được ghi nhận.
Luân lý và đạo lý Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn”. Đó không chỉ là tiêu chuẩn, thứơc đo đạo đức con người mà còn là quy định về chiều kích ứng xử của hiện tại với quá khứ. Thờ người có công là biểu hiện cụ thể của chiều kích ấy. Trong các cơ sở tin – thờ HCM và các sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM thì chiều kích ứng xử này được coi như một quy phạm đạo đức không thể thiếu. Nó không chỉ thể hiện ở tên “hội đoàn đền ơn đáp nghĩa” mà còn thể hiện rất nhiều trong các bài văn vần, thơ lục bát mà các chủ điện thờ HCM viết ra. Văn vần là thứ dễ thuộc, dễ nhớ vì thế văn vần đã trở thành vũ khí lợi hại khi tuyên truyền đối với dân nghèo mà có trình độ đào tạo thấp.
Kết quả điều tra XHH của đề tài “Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” cho biết về trình độ học vấn của hội viên như sau: 0,5% không biết chữ; 14,9% tiểu học; 56,7% trung học cơ sở; 22,3% trung học phổ thông; 2,3% Trung cấp, đại học và 3,3% trên đại học .
Như vậy đa số học viên là trình độ phổ thông cơ sở (56,7%), nếu tính cả tiểu học và không biết chữ thì tổng số hội viên có trình độ đào tạo thấp lên tới 72,1%. Nếu như trước đây Bác Hồ triệt để sử dụng hình thức tuyền truyền này để kêu gọi quốc dân đồng bào. Thì ngày nay tại các điện tư gia thờ HCM hàng trăm tài liệu văn vần như thế đang được truyền tay nhau đọc, học và thuộc lòng, nó không chỉ là tài liệu hướng dẫn họ thực hành, tu tập tại nhà mà còn có tác dụng phổ biến và khuyến khích các hội viên thực hiện đạo lý uống ước nhớ nguồn: biết ơn người có công dựng và giữ nước, biết ơn liệt sĩ hy sinh cho độc lập tự do dân tộc:
“ Đạo nước Nam mãi mãi vang lời/ Thờ và cúng ơn người đánh giặc/ Để bảo vệ cho người và xã tắc/ Dạy người dân phải biết tôn thờ” hoặc: “Ơn tổ tông ơn dòng tộc nước/ Ơn bao đời hy sinh kiếp trước/ Có hồn thiêng đất nước giúp dân/ Có bao hồn liệt sĩ giúp trần”(đền Hòa Bình.2013- 2015: 7: 31)…
Ơn là biểu hiện của thế ứng xử. Mang ơn, biết ơn, ghi nhớ công ơn …là những khái niệm chỉ thái độ ứng xử của các chủ thể. Khi đã biết ơn thì hệ quy chiếu là ghi nhớ để tìm cơ hội báo đáp; hành động để đền đáp lại; sống xứng đáng đề đền đáp…; Với các lực lượng đã mất thì kính ngưỡng và thờ phụng. Ơn tổ tiên dẫn đến đạo thờ tổ tiên, ơn các anh hùng dân tộc dẫn đến đạo thờ thần/ thờ người có công ở VN. Vậy ơn Bác thì việc đền thờ Bác ra đời hôm nay cũng là tất yếu!
Điểm đặc biệt là bên cạnh việc thờ HCM, hầu hết các cơ sở đều phối thờ thêm các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong suốt các cuộc trường chinh dựng và giữ nước. Đây cũng là điểm hết sức đáng suy ngẫm. Việc thờ các anh hùng liệt sĩ không chỉ ở ảnh, tượng mà hầu hết các chủ điện tư gia có thờ HCM đã cùng với hội viên cốt cán của mình đi khắp đất nước, họ đến các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước, đến những nơi ghi dấu các liệt sĩ hy sinh như đường trường Sơn, dòng sông Thạch Hãn và bằng tất cả tấm lòng, thuật chú và kỹ năng dân gian có được để chiêu mộ/ thỉnh mời các linh hồn liệt sĩ cả hữu danh và vô danh về tụ lại trên ban thờ để cộng đồng
được tri ân bằng những nghĩa cử rất long trọng trong những ngày đại lễ của dân tộc như ngày 27/ 7; ngày 2/ 9; ngày 22/ 12.
Tại đây vào những ngày này tất cả các hội viên trong cả nước ai theo điện nào đều tụ về điện đó để dâng mâm lễ nhỏ dù mặn, dù chay và thắp hương kính Bác và kính các anh hùng liệt sĩ để tỏ lòng tri ân. Chứng kiến các hoạt động này ở đền Thiên Phúc (Nam Định) với gần 600 con người trên cả nước về hành lễ tri ân anh hùng liệt sĩ rất nghiêm túc. Hành động này chắc chắn khiến thân nhân và tâm nguyện các linh hồn liệt sĩ dù có ở cảnh giới nào cũng có thể ngậm cười khi biết các thế hệ ngày nay chưa bao giờ quên ân nghĩa ấy. Hoạt động này đã trở thành điểm mạnh có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cộng đồng, trong đó đặc biệt là phụ nữ, có thân nhân là liệt sĩ và thương bệnh binh
Thống kê qua khảo sát thực tế các hội đoàn tin – thờ HCM cho thấy các điện tư gia có thờ HCM có số lượng hội viên có thân nhân là liệt sĩ; thương bệnh binh khá nhiều: Điện Thiên Phúc có 555 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên, trong đó 97 hội viên có thân nhân là liệt sĩ; 53 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh. Điện Hòa Bình có 600 hội viên tham gia sinh hoạt, trong đó có 162 hội viên có thân nhân là liệt sĩ và thương bệnh binh; 53 Cựu chiến binh đang trực tiếp tham gia sinh hoạt hội đoàn tại đây; Điện Phúc Linh có 100 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên, trong đó 20 hội viên là thân nhân liệt sĩ, 40 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh. Thống kê chưa đầy đủ các hội viên của hội đoàn Hoàng Thiên Long trê cả nước có 35. 926 hội viên trong đó có 1.114 hội viên có thân nhân là là liệt sĩ và 492 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh, chưa kể các con số về cựu chiến binh tham gia những hội đoàn này .
Việt Nam là một đất nước trải qua rất nhiều chiến tranh từ dựng nước đến nay. Con số thống kê về liệt sĩ, thương bệnh binh cũng chỉ thống kê đươc các liệt sĩ hữu danh và vô danh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ - chống Tàu thời hiện đại. Vậy còn hàng triệu triệu liệt sĩ ngã xuống trong kháng chiến chống Hán – Đường - Tống – Nguyên – Minh – Thanh trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử trường chinh giữ nước thì chưa và không bao giờ có thể thống kê nổi. Hiện tại ở Việt Nam đã và đang có những nghĩa trang liệt sĩ nào đã và đang thờ những liệt sĩ vô danh này ?. Biểu tượng nào để diễn tả hết máu xương của người dân Đại Việt đã đổ xuống để gìn giữ non sông? . Tất cả họ đã trở thành những anh linh – khí thiêng của dân tộc, đất nước. Vì thế mà biểu tượng cờ đỏ sao vàng trên ban thờ - không gian thiêng, không gian được tôn trọng nhất trong gia đình các hội viên tin – thờ HCM không chỉ thể hiện màu máu, màu hạnh phúc mà đó là “hồn nước”, hồn dân tộc. Câu quốc ca “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước” mỗi khi vang lên và trở thành nghi thức chính thức trong các cuộc lễ tại các điện thờ tư gia thờ HCM đều thức dậy trong tâm khảm mỗi con người VN về một luồng sinh khí lớn lao chưa bao giờ đứt đoạn của dân tộc đau thương mất mát và anh hùng.
Như vậy, với những cách thể hiện giản dị nhưng mang đầy ý nghĩa lễ thức đầu tiên, quan trọng và rất nhạy cảm của tất cả các cơ sở thờ tin – thờ HCM ở Việt Nam khi bắt đầu của một buổi sinh hoạt của hội đoàn. “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước” đã trở thành biểu tượng rất có ý nghĩa nhân văn và là một hình tướng không thể thiếu trên ban thờ tại nhà các hội viên tin - thờ HCM. Ý nghĩa ở đây không chỉ giáo dục về lòng biết ơn, tinh thần yêu nước, mà nhắc nhở mỗi con người về cái giá phải trả cho độc lập tự do hôm nay.
Cùng với hàng loạt các hoạt động khác như diễn xướng về lịch sử dân tộc từ thủa Hồng Bàng đến nay; hát các bài ca cách mạng; Báo công dâng bác và tặng quà các gia đình liệt sĩ tại các cơ sở Thờ HCM trong ngày 27/ 7 hằng năm …không chỉ răn dạy cho các hội viên phải biết uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa với tổ tiên đất nước, với tổ tiên dòng tộc gia đình mà còn giáo dục về tinh thần chống ngoại xâm thường trực. Điều này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nó không chỉ nhắc nhở mỗi cá nhân về cái giá của dân tộc này đã phải trả để có độc lập tự do mà đặc biệt với những tầng lớp dân nghèo, ít học cũng thấm rất sâu nghĩa cử uống nước nhớ nguồn, có được hòa bình là đổi bởi máu xương. Từ đó thức dậy, hình thành lòng yêu nước, yêu cộng đồng mình và |tu dưỡng tại gia là cách để mỗi người sửa tâm và tính mình trong cuộc sống với người thân gia đình để xứng đáng là con cháu Tiên – Rồng. Ý nghĩa của việc đặt /gọi “hội tu gia” của các hội viên tin – thờ HCM là mang nội hàm đó. Các phương châm như “lấm rửa, lệch kê” là cách nói dân gian hàm ý chỉ ai chưa sạch tâm hồn thì phải tu dưỡng cho thanh sạch; ai thấy cuộc sống còn chông chênh, hành vi, nhận thức còn lệch chuẩn thì phải tìm cách điều chỉnh để cân bằng lại cuộc sống. Vậy “rửa” bằng cách nào và “kê” bằng cách nào?. Các tài liệu lưu hành trong cộng đồng thờ HCM khuyên các hội viên như sau:
1) Tuân thủ theo mô hình tâm linh mới: “Phía trần: Nhà nước Việt Nam ta có một Đảng duy nhất, hướng về tổ quốc quang vinh giàu đẹp, Việt Nam ta phải thờ ta”. Phía Âm “ hình ảnh gia đình là hình ảnh thu nhỏ của tổ quốc. Ta hãy nên nghiêm lệnh thực hiện theo đường lối văn minh của thời đại mới: Việt Nam ta phải thờ ta/ Việt Nam mới sáng tổ tiên nhà” (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên: 2021: 8).
2) Mỗi người phải tu tâm dưỡng tính: “Tu tâm tích đức, thiện thật thà”); “ sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ Vĩ đại, Cần – Kiệm – Liêm – chính – Chí – Công - Vô tư. Đó là liều thuốc bổ nâng cấp tinh thần cho mỗi chúng ta”(Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 20). Bên cạnh đó các chủ điện còn tận dụng tối đa truyền thống tu dưỡng của văn hóa Việt Nam đó là “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Giải thích về tu tại gia cho biết: “Tu gia có nghĩa tu tại nhà/ Ai chẳng có cửa có nhà/ Ai chẳng có mẹ có cha sinh mình/ Đó là khắc cốt của cả công trình/ Cho nên răn dạy – chớ quên lãng mình ai sinh”; Hoặc “Kêu gọi cả nước đồng bào/ Giải trừ án nghiệp – đi vào tu gia/ chính là thờ mẹ kính cha/ Là thờ gốc tổ đạo nhà Việt Nam” (Hoàng thiên long - Kinh thiên. 2021: 22, 76). Trong tài liệu của hội đoàn Hoàng Thiên Long còn phổ biến 5 biến kinh dùng để cho các hội viên niệm hằng ngày tại nhà khi dâng hương tổ tiên, và kính Bác. Có thể thấy ngay hội viên thuộc nằm mình những câu như “ La vô con niệm Phật đà/ Con nguyện chí hướng thật thà tu ngoan/ Con nguyện giấy rách giữ lề/ Còn lấm xin rửa lệch xin kê bằng/ La vô con nguyện nghiệp căn/ Con xin tu sửa ở ăn đường đời/ La vô con niệm tâm chay/ ăn mặn nói thật mới dày đức lương”; “ sống sao cho đẹp cõi lòng/ Bậc sang đạo nghĩa sáng trong tâm hồn/ Lưu danh chính đạo bảo tồn/ Tu gia trừ nghiệp mát hồn tổ tiên” (Hoàng Thiên Long - Kinh thiên. 2021: 108, 109. 214).
Những câu chữ này có thể ở góc độ nào đó còn chưa phải là những mỹ từ hay tiêu chuẩn “thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc” nhưng rõ ràng là tác dụng hữu hiệu bởi gần gũi dễ hiểu dễ đọc, dễ thuộc. Giáo dục đạo đức mà nhẹ nhàng, thiết thực, hiệu quả!
Điều tra XHH của chúng tôi trên tổng 2014 hội viên các hội đoàn tin – thờ HCM trên cả nước cho biết tỷ lệ trên 90% các hội viên tham gia phỏng vấn phiếu cho biết kinh sách tài liệu dễ hiểu, dễ đọc và phủ hợp với hội viên (xem bảng biểu )
Như vậy, thông qua việc thờ chủ tịch HCM – Danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc của thế kỷ XX. Việc thờ HCM không chỉ là thể hiện lòng biết ơn với công lao trời biển của Người mà ở đây hình tượng về Bác đã trở thành bệ đỡ của niềm tin xã hội, tình cảm con người và là mẫu mực của đạo lý sống. Việc lấy tư cách đạo đức của HCM làm thước đo, làm phương châm tu dưỡng đạo đức tại gia của các hội viên, cộng đồng tin – thờ HCM và phương châm kính tổ tiên nhà là một điểm tích cực có ý nghĩa nhân văn đáng ghi nhận. Xét về mặt giá trị thì những nội dung tu tập này cũng là biểu hiện của khía cạnh luân lý – đạo đức.
3) Khuyến khích hội viên nói không với mê tín dị đoan. Đi sâu vào nghiên cứu đời sống tâm linh tinh thần của các hội viên Tin – thờ HCM mới thấy rất rõ tinh thần chống mê tí dị đoan của họ. Điểm rõ nhất có thể nhận ra ngay đó là phương châm mỗi người tự làm thầy trong gia đình của mình. Tự mình làm các lễ thức cúng gia tiên trong nhà; không mời thầy bà cúng quải, không câu nệ xem ngày giờ; không đốt vàng mã; giảm tiện tối đa cúng mặn. Ngày lễ trong gia đình chỉ có hương, hoa, quả tươi (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 10,11)
Cúng quải, độ âm, độ dương vốn dĩ là việc làm của thầy Cúng, thầy Pháp, các ông Thống, ông Mo, Bà Mỡi… và cũng trở thành một thói quen, lệ tục đã từng tồn tại ở VN hàng nghìn năm qua. Hoạt động cúng quải diễn ra thường xuyên liên tục trong mỗi gia đình, đời người. Nhưng cúng quải ở đây mà các hội viên hội tu gia thờ HCM kiên quyết bài trừ đó là việc rước các thầy cúng về nhà cúng dâng sao, giải hạn, cúng giải oan cắt nghiệp; cúng vong oan gia trái chủ, cúng đuổi ma trừ tà, gọi hồn…là những hoạt động mang tính tôn giáo diễn ra không mới nhưng khá là bất cập trong đời sống tâm linh tinh thần của người VN trong nhiều trường đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc và cũng trở nên khá sôi nổi trong những năm gần đây nếu như không muốn nói là thành vấn đề xã hội lợi ít hại nhiều.
Viết về thói quen này của người Việt trước đây, Toan Ánh cho biết: “Dân ta tôn thờ và tin tưởng những sức mạnh vô hình chính là vì ân, nghĩa và vì lễ vậy” (Toan Ánh. 1992: 17) vì thế các hoạt động cúng, vái thực chất chỉ là việc giữ lễ. Tuy nhiên, không phải bất kỳ người dân VN nào cũng hiểu được ý nghĩa này, vì thế mà có người thì làm quá lên, có người thì không biết làm thế nào cho phải, vậy là bài toán đơn giản nhất là mượn thầy (bói, cúng, Đồng, tu sĩ)…và mọi tệ hại cũng bắt đầu từ những phán bảo của các ông thầy này mà làm ra hệ lụy.
Phát biểu về tình trạng tôn giáo này L.Cadier cho rằng tôn giáo của người Việt là tôn giáo “thờ quỷ thần”; “Ở đâu trên đất nước này cũng có sự hiện diện của thần linh, ma quỷ... Cụ thể là mọi hành vi thao tác của họ đều quanh quẩn với các đấng siêu nhiên, biểu hiện ở “tổng thể những nghi lễ, những động tác, những thực hành, những thể hiện thầm kín, những cảm thức tâm hồn bao trùm lấy cuộc sống thường nhật” (Leopold Cadiere, Đỗ Trinh Huệ dịch. 2010: 26). Phạm Việt Tuyền trong nghiên cứu về tính cách người phụ nữ Nam bộ cuối XIX cũng phát biểu “Tính người mau lẹ, nữ công tinh xảo, hay đi thuyền, giỏi nghề bơi sông nước, ưa nóng ghét lạnh, bệnh tật ít hay tìm thầy thuốc, ưa dùng đồng bóng và thầy phù pháp Cao Man” (Phạm Việt Tuyền.1974: 80) .
Vấn đề ở đây là các cúng quải này không chứng minh được hiệu quả của nó mà để lại hệ lụy rất đáng lưu ý như gây tốn kém, tạo ra nỗi sợ hãi, mâu thuẫn trong gia đình và nhiều hệ lụy đã từng xảy ra mà báo chí đã phanh phui như vụ chùa Ba vàng với các lễ cúng vong oan gia trái chủ năm 2018 - 2019; Những lễ cúng vong cho gia chủ Hà Nội chi phí tới 80 triệu đồng; tình trạng cúng giải hạn kinh khủng ở chùa Phúc Khánh (Hà Nội) và vô vàn các hệ lụy khác mà báo chí đã đăng tải trong những năm gần đây. Đi liền với các hoạt động cúng quải này là các chi phí liên quan đến lễ cúng: chay – mặn; vàng mã và những bói đoán phán bảo của các thầy cúng, thầy bói… lợi thì chưa thấy mà hại thì thấy ngay đó là sự tốn kém về tiền bạc. Con số “đốt vàng mã tiêu tốn tới 30.000 tấn giấy, trị giá 300 tỷ đồng” (Lê Hồng Lý. 2008: 356), chưa kể tốn kém về thời gian cũng như những bất ổn về an ninh tinh thần khi mà chờ đợi để được làm lễ giải hạn tới 5 tiếng tại chùa Phúc Khánh (Tuấn Anh – Văn Thắng. Báo lao động: 18/2/2019). Nắm bắt được tình trạng này hầu hết các cơ sở thờ tin – thờ HCM đều khuyến cáo hội viên của mình tẩy chay với hoạt động này. Trong đó nhóm hội đoàn Hoàng Thiên Long cực lực phản đối và tuyệt giao gần như triệt để. Điều này không chỉ mang lại một lối sống mới tiến bộ, và cắt giải những u ám về tinh thần mà rất nhiều các thầy cúng hiện nay đã và đang gieo vào đời sống tinh thần nhiều cá nhân và gia đình. Xét về phương diện văn hóa, rõ ràng đây là một cuộc cách mạng về phương diện tâm linh, tinh thần với những mũi nhọn đánh thẳng vào những lề lối, tục lệ không còn phù hợp. Ở khía cạnh này cộng đồng tin – thờ HCM xứng đáng được ghi nhận.
* Về phương diện các giá trị thẩm mỹ
Tại các cơ sở thờ HCM cũng như những sinh hoạt đội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM thì giá trị thẩm mỹ có thể thấy trên hai phương diện: 1) Cờ đỏ sao vàng trở thành biểu tượng thiêng liêng được chính thức coi là quốc hồn quốc túy của dân tộc và hình tượng HCM được diễn tả rất cao siêu đẹp đẽ như một hình mẫu đạo đức lý tưởng để cộng đồng hướng tới. 2) Tham gia các sinh hoạt hội đoàn các cá nhân lam lũ nhất trong xã hội cũng có cơ hội được thể hiện phẩm chất tốt đẹp của mình; Cá biệt ở 1 số người cảm xúc tôn giáo trỗi dậy mà xuất lộ những năng khiếu nghệ thuật như làm thơ, ca hát với những bài hát tự sáng tác . Chưa kể đến các thể loại thơ, văn vần mà các chủ điện tư gia thờ HCM sáng tác có đến hàng chục, vài chục, thậm chí hàng trăm cuốn.
Ở phương diện thứ nhất có thể thấy ngay trong các sinh hoạt hội đoàn: chào cờ và hát quốc ca là nghi lễ không thể thiếu, lá cờ đỏ sao vàng trở thành tâm điểm của nghi lễ và là biểu tượng bắt buộc trong trang trí ban thờ tại nhà của Hội viên bên cạnh cờ Đảng. Trong tâm tưởng cộng đồng tin – thờ HCM thì hình tượng Bác Hồ được diễn đạt với vô vàn ngôn từ đẹp đẽ, cao siêu, anh linh với rất nhiều vai trò khác nhau: Là cha già dân tộc, là Ngọc Phật, là vĩ nhân, là thần, là danh nhân văn hóa, người anh hùng giải phóng dân tộc, là anh cả Thiên đình.v.v… Có thể nói Bác là thần chủ và chiếm vị trí ngôi cao nhất thế giới linh thiêng. Những ca ngợi về HCM gần như tràn đầy các bài thơ, trang sách, đại loại như: “ Bác là mặt nguyệt sáng gương/ Soi toàn nhân loại tình thương vô bờ” (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 248).
Ở phương diện thứ 2 đó là sự xuất hiện các cảm xúc tích cực của mỗi con người khi tham gia các sinh hoạt hội đoàn gắn với các lễ nghi mang tính tôn giáo. Về mặt lý luận, cảm xúc tôn giáo là một hiện tượng phức tạp nó bao hàm trong mình quan niệm về thế giới thiêng, các giá trị cụ thể, các tâm thế và phản ứng gắn liền với chúng. Cảm xúc tôn giáo khi xuất hiện có ảnh hưởng nhiều đến lối sống và các quan niệm, giá trị của cá nhân chủ thể. Trong tôn giáo nói chung thì tình cảm tôn giáo là yếu tố đóng vai trò như là động lực để định hình niềm tin tôn giáo. Từ khía cạnh này cho thấy tôn giáo vừa có chức năng an ủi, giúp các cá nhân giải toả được các trạng thái stress (căng thẳng thần kinh), tìm đựơc những giaỉ pháp cho một số tình huống mà con người bế tắc trước thực tại cuộc sống. Nghiên cứu của Uliam giêmxơ cho biết cảm xúc tôn giáo mang lại cho con người cảm nhận thấy phép màu; cảm nhận thấy quan niệm mới và các giá trị mới, cảm nhận thấy tính thần thánh và thâm thuý. Khi cảm xúc tôn giáo xâm chiếm toàn bộ con người trí tuệ, tình cảm, giá trị và quan hệ sinh tồn của con người, nó đụng chạm tới ý thức cơ bản và nền tảng về sự nhất thể hoá (Uliam giêmxơ. 2004: 19).
Cảm xúc tôn giáo được lý giải như thế nào lại phụ thuộc vào văn hoá, tư tưởng và ngôn ngữ của mỗi cá nhân, tộc người và được thừa nhận ở thời điểm mà người ta cảm nhận. Trong nhiều trường hợp cảm xúc tôn giáo diễn ra bất ngờ và hướng cuộc sống của con người theo một chiều hướng mới hoàn toàn. Cũng có cảm xúc tôn giáo chợt đến khi người ta đọc kinh bổn hay ngẫm nghĩ về nó, cũng có cảm xúc tôn giáo nảy sinh nhân tế lễ, cầu nguyện hay thực hành các lễ nghi khác mà tín đồ của các tôn giáo sử dụng… Từ đặc tính này mà Uliam giêmxơ đã khẳng định kết quả của sự đi theo tôn giáo là: “Tránh được sự bất an; nhận thức các chân lý trước đó chưa biết; Cảm nhận thấy rằng những chuyển biến khách quan đang diễn ra trong thế giới, nói cách khác, sự đi theo tôn giáo giả định một cái nhìn mới về thế giới, một sự cảm nhận mới, toàn vẹn hơn về bản thân (Uliam giêmxơ. 2004: 19).
Nghiên cứu tổng hợp các thông tin qua 208 câu chuyện cuộc đời (life story) của hội viên tin – thờ HCM cho thấy các cụm từ mô tả về tình trạng sống của bản thân và gia đình sau khi tin – thờ HCM cho biết các cụm từ “gia đình vui vẻ, bản thân thoải mái, hạnh phúc, không lo âu” xuất hiện 166 lần, còn lại 42 lần xuất hiện các cụm từ “ tiết kiệm, sửa sang được nhà cửa, chữa được bệnh tật”(Nguyễn Ngọc Mai. 2025). Điều này chứng tỏ từ khi tin – thờ HCM hầu hết các hội viên hội đoàn tâm linh HCM đều chuyển hoá trạng thái tâm lý tiêu cực sang trạng thái tâm lý tích cực. Đó là chưa kể nếu trực tiếp tham dự các sinh hoạt hội đoàn quan sát nét mặt hân hoan, vui vẻ của từng người, niềm vui khi được hát múa, họ có cơ hội được mặc những tà áo dài vốn là vẻ đẹp và niềm tự hào của phụ nữ, được hát những bài hát, bài thơ tự mình sáng tác sẽ thấy được những tác dụng tích cực do cảm xúc tôn giáo mang lại (xem ảnh)
Bức ảnh chụp hành vi của các hội viên sau khi được hỏi “ai thấy cuộc sống của mình hạnh phúc, vui vẻ hơn sau tin – thờ HCM thì giơ tay?”. Nguồn: Nguyễn Ngọc Mai (tại cơ sở ở An Lão Hải phòng năm 2024)
Thử hình dung một cộng đồng xã hội mà mức thu nhập dưới 5 triệu / tháng chiếm 56,1%, từ 5 triệu – dưới 10 triệu chiếm 28,1%; Nghề nghiệp chủ yếu nông nghiệp chiếm 46,9%, hưu trí 23,7%p; Học vấn tiểu học chiếm 14,9%, trung học cơ sở chiếm 56,7%, trung học phổ thông 22.3% , thì đó là tầng lớp xã hội nào? Có thể trả lời ngay họ là nhóm nghèo có học vấn không cao, thiếu hụt rất nhiều các điều kiện và cơ hội để phát triển con người (chưa kể những thông tin, tín hiệu về giới) . Do đó họ cũng không thể có điều kiện cũng như cơ hội tham gia các sự kiện văn hóa, xã hội, nghệ thuật khác một cách trực tiếp như âm nhạc, phim ảnh, hội họa… để có thể tự giải tỏa, cân bằng trạng thái tâm lý, cảm xúc. Vì thế sinh hoạt hội đoàn với điểm tựa là biểu tượng về HCM, những anh hùng dân tộc và liệt sĩ để tìm sự chở che, nâng đỡ, qua đó có cơ hội thể hiện mình, hòa với cộng đồng cùng niềm tin, ước muốn là nguyện vọng chính đáng. Mỗi người một thân phận, một cuộc đời với những éo le đau khổ khác nhau nhưng một sinh hoạt chung, một niềm tin chung đã mang lại cho họ những trạng thái sống an ổn, vui vẻ thoải mái thì những sinh hoạt đó tất yếu có những giá trị nhân văn.
3. Kết luận:
Cho đến nay hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam đã có quá trình hơn 30 năm hoạt động với nhiều hình thức khác nhau. Chặng đường hơn 30 năm đó của cộng đồng tin – thờ HCM cũng đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động, điều chỉnh. Có tổ chức vỡ ra thành những mảnh nhỏ, hoạt động độc lập theo xu hướng hội đoàn, có tổ chức lớn mạnh theo cách riêng. Nhưng rõ ràng các hoạt động sinh hoạt tâm linh thờ HCM tại gia đình riêng, cũng như các hoạt động của cộng đồng tại các điện thờ tư gia của nhóm xã hội này đã và đang thể hiện nhiều giá trị nhân văn, nhân ái mà bài biết đã trình bày ở trên. Đó là những biểu hiện rất rõ rệt về giá trị ý thức hệ, về luân lý, đạo đức cũng như hàm chứa nhiều giá trị thẩm mỹ, chưa kể những giá trị về giáo dục lịch sử dân tộc, cảm thông đồng loại, hay những tấn công trực diện vào lề thói tục lệ không còn phù hợp, kêu gọi một lối sống mới văn minh hơn cho một tầng lớp có thể nói là chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Điều đó cho thấy hiện tượng tin – thờ HCM cũng là tiếp nối truyền thống văn hóa dân tộc là tin – thờ lãnh tụ và người có công với nước. Dù hình thức hay diễn tiến của loại hình này có thăng trầm ở mức nào thì với sức sống trên 30 năm tồn tại, bản thân nó cũng tỏ rõ tính hữu ích cho một cộng đồng xã hội cụ thể. Nói như E.M Durkhem “cái gì tồn tại nhất định đang đảm nhiệm chức năng xã hội tích cực của nó”!
Tài liệu tham khảo:
1. Toan Ánh (1992), Nếp cũ Tín ngưỡng Việt Nam. Quyển thượng.
2. Tuấn Anh – Văn Thắng (2019) “Xếp hàng trước 5 tiếng ở sân chùa Phúc Khánh chờ cúng Rằm tháng Giêng”. Báo lao động, đăng ngày 18/2/2019.
3. Cơ sở 79 mùa xuân (2023), Kinh Pháp hoa. Tài liệu lưu hành nội bộ.
4. Đền Hòa Bình (2013- 2015), Đạo trời nước VN, Đạo tâm linh đặc biệt. Tài liệu lưu hành nội bộ.
5. Đền Hòa Bình, Lịch sử thánh thần hai đền Khê Khẩu. Quyển số 11. Tài liệu lưu hành nội bộ.
6. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, cơ sở lý luận góp phần đúc kết xây dựng giá trị chung của con người VN thời nay. Nxb Dân trí.
7. Nguyễn Thị Huệ (?) Các Bài hát truyền thống và tiếng hát từ tâm. Tài liệu lưu hành nội bộ.
8. Nguyễn Thị Huệ (1990 – 2024), Văn hóa giáng linh xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN, tài liệu lưu hành nội bộ.
9. Nguyễn Thị Huệ (2016), Việt Nam bốn ngàn năm. Nxb văn hóa dân tộc.
10. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín ngưỡng. Nxb Vhtt.
11. Hoàng Thiên Long (2021), Kinh thiên đại pháp đoàn tràng tu gia. Tài liệu lưu hành nội bộ.
12. M. Rokeach (1973), The Nature of Human Values. New York, The Free Press
13. Nguyễn Ngọc Mai, (2016), “Tìm hiểu các giá trị tôn giáo truyền thống ở VN”. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3.
14. Nguyễn Ngọc Mai (2015), Số liệu tổng hợp câu chuyện cuộc đời đề tài “ Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” thực hiện qua các năm 2024 – 2025 trên địa bàn cả nước.
15. Nguyễn Ngọc Mai (2015), Kết quả khảo sát xã hội học của đề tài cấp bộ “Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” .
16. Phúc Linh Từ, Đạo tâm linh đất Việt – Hành trình theo linh Bác Hồ”
17. Uliam giêmxơ “đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo” trích theo tài liệu “Triết học tôn giáo”, Nxb chính trị quốc gia, 2004.
18. W. Bilsky etS.Schwartz (1987), Values and personality, http://strandtheory.org/images/Schwartz_Value_Theory.pdf
19. Nguyễn Quốc Tuấn (2016), Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp nhà nước mã số KX.03.11/11-15.
20. Phạm Viêt Tuyền (1974), Cửa vào phong tục Việt Nam. Nxb Sài Gòn, tr 80.
21. Tạ Chí Đại Trường (2011), Thần, Người và đất Việt. Nxb văn học.
22. Tư liệu khảo sát, quan sát tham dự (ghi âm, ảnh chụp, video, ghi chép) tại 14 cơ sở điện tư gia thờ HCM trên cả nước trong các năm 2023 – 2024 – 2025.
Trong các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới ở Vn hiện nay hiện tượng tin – thờ Hồ Chí Minh (HCM)là hiện tượng được đánh giá là có nhiều nét giống với các loại hình tín ngưỡng truyền thống ở VN. Nhưng cũng chưa có nghiên cứu nào đầy đủ, hệ thống và toàn vẹn về loại hình này, vì thế nó vẫn bị đặt trong/ hiểu là các hiện tượng tôn giáo mới (New Riligious Moverment – NRM). Thờ HCM đã xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990 của thế kỷ trước và ngày càng lan rộng với nhiều tên gọi khác nhau: Đạo Bà Lương, Ngọc Phật HCM; tâm linh HCM, Đạo Bà Điền, Đạo đền ơn đáp nghĩa…Khảo sát của tác giả trong ba năm vừa qua cho thấy hiện tại tất cả các nhóm xã hội tin – thờ HCM hiện nay đã phân hóa thành 4 dạng:
Dạng thứ nhất là các cộng đồng sinh hoạt theo mô hình hội đoàn theo đơn vị hành chính tỉnh. Nhóm này đông nhất, thống kê khoảng trên 30 nghìn người, trong số này có nhiều người từng là hội viên của điện Hoàng Thiên Long, có người chưa từng về Hoàng Thiên Long bao giờ nhưng thấy “kinh sách” của Hoàng Thiên Long phù hợp nên tin theo và gia nhập hội đoàn. Nhóm này sinh hoạt theo tổ chức đoàn hội. Toàn bộ cộng đồng này chỉ thờ HCM tại gia, lấy cuốn “ Kinh thiên đại pháp đoàn tràng tu gia” là phương tiện chỉ dẫn mọi thực hành thờ Bác tại nhà”.
Dạng thứ hai: là các cộng đồng gồm các cá nhân đơn lẻ từ mọi địa phương tin – thờ HCM nhưng họ chỉ sinh hoạt theo 1 đền điện cố định như Đền Thiên Phúc (Nam Định), Điện Phúc Linh (Hải Dương); Đền Hòa Bình (Hải Dương); đền Ngọc Phật HCM (Sóc Sơn - HN) vào những ngày cố định trong năm như mùng 2/9; 27/7; 19/5…Đặc điểm của những điện thờ này là thờ HCM và nhiều danh nhân văn hóa cũng như các anh hùng dân tộc khác như Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi …cho đến liệt sĩ thời hiện đại. Các chủ điện thờ tư gia này cũng viết các tài liệu thơ, văn vần nhằm huấn dụ hội viên của mình về chủ tịch HCM, về vai trò của chủ điện và hướng dẫn các cách tu dưỡng, hoạt động tâm linh thờ Bác tại gia. Hoạt động tại điện thờ trong những ngày lễ cố định chủ yếu là dâng hương, múa hát, tri ân các gia đình thương binh, liệt sĩ. Ngoài ra họ cũng thường tổ chức các khóa lễ đi các nơi để lễ bái tại các di tích lịch sử liên quan đến HCM và bắt ma giải yểm bùa ở những nơi mà họ cho là có linh báo ở đó có bùa ngải của người Tàu trấn yểm.
Dạng thứ 3: Nhóm đoàn hội hoạt động độc lập, không tham gia với các hội đoàn theo đơn vị hành chính tỉnh, cũng không theo bất cứ một đền/ điện nào cụ thể. Nhưng đền/ điện nào cũng đến tham dự khi ở đó có sinh hoạt cộng đồng. Họ đến với tư cách quan sát, nghe, tham dự, mua tài liệu, tự chuẩn bị nhu yếu phẩm mang theo. Họ cũng có đoàn trưởng, nhưng không phải là người viết được thơ văn vì thế họ thường xuyên sưu tầm các tài liệu của đền điện khác để chắt lọc và tuân thủ theo những nội dung mà họ cho là đúng. Họ cũng thờ Bác tại gia.
Dạng thứ tư là các điện nhỏ mới thành lập, họ là những chủ thể tách ra đền điện gốc và lập riêng cơ sở mới cho mình. Họ tự cho mình có khả năng thông linh với HCM, họ cũng tập hợp các cá nhân tin theo thông qua các trang mạng xã hội, video tự làm tự đăng trên youtube. Nhóm này nhỏ hiện nay chỉ khoảng dưới chục cơ sở, số lượng người theo không nhiều, mỗi cơ sở khoảng trên dưới chục người. Đặc điểm nhóm này là chủ cơ sở cũng viết thơ, viết văn (được cho là Bác thông linh cho viết để răn dạy hội viên của mình và dự báo này kia). Ngoài ra họ còn thực hành các hoạt động bắt ma, trừ tà cho những người bệnh (được cho là bị ma ám).
Như vậy dù hoạt động theo mô hình nào thì 1) tư liệu, tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng hội viên (còn được gọi là kinh sách) là một yếu tố then chốt thể hiện bản chất, đường lối và những tuyên ngôn/ diễn ngôn của các cơ sở/ cộng đồng tin - thờ HCM và trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động ứng xử của nhóm xã hội này và 2) Các hoạt động tại gia và hoạt động tại cơ sở thờ HCM của cộng đồng trong những ngày lễ trọng sẽ cho phương thức thực hành sinh hoạt mang tính tôn giáo, tính xã hội và chức năng của các đền điện đó đối với các nhóm xã hội tin – thờ HCM.
Từ những đặc trưng này mà nội dung bài viết dưới đây sẽ tập trung luận giải về những nội dung của các tư liệu tài liệu lưu hành trong cộng đồng tin – thờ HCM và các hoạt động tại các cơ sở đền điện thờ HCM. Qua đó góp phần nhận diện và làm tường minh các nhận định về tính văn hóa, tính nhân văn và giá trị hữu dụng nhất định về hiện tượng tín ngưỡng đặc biệt này.
2. Giá trị học, giá trị tôn giáo tín ngưỡn và những giá trị nhân văn qua nghiên cứu tư liệu, tài liệu, hoạt động của cộng đồng và tại các điện tư gia thờ HCM ở VN
2.1. Gía trị học
Giá trị là một khái niệm trung tâm trong đời sống xã hội. Đối với nhiều tác giả (Tocqueville, Durkheim, Weber), các giá trị là nền tảng để giải thích tổ chức và thay đổi ở cấp độ xã hội cũng như cá nhân. Giá trị không chỉ quan trọng trong xã hội học, mà còn cả ở tâm lý học, nhân học và toàn bộ các bộ môn khoa học quan tâm đến chúng. Người ta dùng chúng để xác định các cá nhân và các xã hội, để theo dõi sự biến đổi qua dòng thời gian, để giải thích các động cơ ẩn dưới thái độ và ứng xử. Các giá trị là nguồn gốc của các luật, các quy tắc, các thỏa ước chi phối các nhóm người và các mối liên hệ giữa các cá nhân tạo ra . Có nhiều quan niệm khác nhau về các giá trị, nhưng sử dụng chúng trong khoa học xã hội thì thiếu một sự thỏa hiệp liên quan đến các giá trị nền tảng về nội dung và kết cấu của chúng. Vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị:
“Một niềm tin bền vững theo đó là một phương thức định hướng hoặc một mục đích tồn tại cá nhân và xã hội ưu thế hơn định hướng và mục đích khác” (M. Rokeach (1973: ); “Sự tán thành của các cá nhân đối với các đối tượng cho phép thỏa mãn các lợi ích thuộc vào khu vực tạo động cơ và đồng thời có một tầm quan trọng nhiều hay ít đối với cuộc sống hằng ngày” (Schwartz : 1987); “Điều con người đánh giá, cảm nhận, ước muốn nhận được, gửi gắm, xem như một điều lý tưởng” (B. Rezsohazy. 2006).
Phạm Minh Hạc trong một công trình nghiên cứu về giá trị, dựa trên những tiếp cận về hoạt động tâm lý của con người đã đưa ra những nhận định về giá trị và hệ giá trị như sau: “giá trị trong giá trị học là cái quy định mục đích của hoạt động và động cơ thức đẩy hoạt động đạt được mục đích đó”, theo ông từ các giá trị gốc mà hình thành nên những hệ giá trị như: giá trị xã hội (hòa bình, hợp tác, dân chủ…), giá trị dân tộc (độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ), với con người (phát triển con người, thu nhập, việc làm, quyền con người…) đây được coi là những giá trị cốt yếu, giá trị sống còn, giá trị nội tại (Phạm Minh Hạc. 2012: 32)
Như vậy giá trị được hiểu như thế nào vẫn phụ thuộc vào cách tiếp cận của từng nghành khoa học riêng biệt, có điểm chung giá trị là những ước định chung của cộng đồng hướng tới các chuẩn mực và có tác dụng điều tiết các ứng xử của cá nhân, cộng đồng và xã hội trong cuộc sống. Nói đến giá trị là hàm ý tích cực, nhân văn và mang tính bền vững, giá trị của một tổ chức hay cộng đồng cũng là thước đo để nhận diện, đánh giá về một cá nhân hay cộng đồng, xã hội, nó chứng tỏ sự tồn tại hữu ích của cá nhân hay cộng đồng đó đối với xã hội.
2.2. Giá trị tôn giáo, tín ngưỡng
Trong một nghiên cứu cấp nhà nước về giá trị tôn giáo tín ngưỡng của Viện Nghiên cứu tôn giáo đã đưa ra khái niệm: “giá trị tôn giáo là các nguyên lý, chuẩn mực định hướng và cung cấp ý nghĩa cuối cùng nhằm giải đáp các nhu cầu và lợi ích cơ bản của cuộc sống con người/tín đồ xuất phát từ chân lý mà tôn giáo tuyên bố sở hữu” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: 39).
Thực tế cho thấy các thực thể tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tâm lý và hành vi của con người cũng như tín đồ của các tôn giáo đó. Giá trị tôn giáo, với tư cách kép: vừa là giá trị tự thân, vừa là giá trị phổ quát, do đó là một trong những nhân tố quan trọng vừa tạo ra, vừa hấp thụ và phát triển hệ giá trị chung của xã hội, đặc biệt các tiểu hệ giá trị như: chân thực, luân lý và đạo đức, thẩm mỹ, tư tưởng, truyền thống…nó vừa là giá trị phổ quát ở trong các giáo lý tôn giáo, vừa là giá trị phổi quát của xã hội. Quan sát đời sống trên thế giới cho thấy ở nhiều quốc gia, cũng như ở Việt Nam, tôn giáo có một vai trò quan trọng, thậm chí chi phối các hệ giá trị xã hội thông qua các phương diện đạo đức, thẩm mỹ, triết lý và chính trị. Giá trị tôn giáo vì thế “tạo ra khả năng ổn định và liên kết xã hội, đứng hàng đầu trong xây dựng về lòng khoan dung và do đó nó tác động và ảnh hưởng rất lớn đến phát triển xã hội một cách bền vững” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016 : 40). Ở mặt phản chiều thì “giá trị tôn giáo cũng có thể đưa đến sự xung đột xã hội và bất khoan dung, đó là các phản giá trị tôn giáo” (Nguyễn Quốc Tuấn (2016: 34).
Từ nghiên cứu cấp nhà nước này mà 6 giá trị của tôn giáo được nghiên cứu, đúc kết gồm:
1) Giá trị chân lý, đây là giá trị cốt lõi nhất của tôn giáo. Tính ổn định lâu dài của thực thể tôn giáo trong lịch sử khẳng định giá trị chân lý, tạo ra ở người tin theo một niềm tin tuyệt đối vào thần minh, thượng đế hay lời dạy của người sáng lập (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: tr 40).
2) Giá trị luân lý và đạo đức. Thực thể tôn giáo ưu tiên đề ra các nguyên tắc của luân lý, đạo đức và lối sống của cá nhân và cộng đồng theo khuôn mẫu lý tưởng mà tôn giáo đó xây dựng. Đây cũng là giá trị trội vượt của hệ giá trị tôn giáo. Nhìn vào cách hành xử của tín đồ, có thể thấy rõ giá trị chân lý đã chi phối như thế nào đối với mối quan hệ giữa cuộc sống cá nhân và, cộng đồng. Cộng đồng tôn giáo chính là nơi biểu hiện rõ nhất các đặc trưng của luân lý và đạo đức, là môi trường truyền dạy và phổ biến giá trị luân lý và đạo đức. Do đó, khi đánh giá cộng đồng tôn giáo, nhất thiết phải xem xét phương diện giá trị luân lý và đạo đức như một ưu tiên của hành vi tôn giáo.
3) Giá trị ý thức hệ. Ý thức hệ được diễn tả như một hệ thống học thuyết và niềm tin, phán xét và giá trị, chuẩn mực luân lý. Giá trị này định hướng ý thức và hành vi hằng ngày của cá nhân và cộng đồng tín đồ. Ý thức hệ còn định hướng các cá nhân nhận thức, ý thức về một cộng đồng mà mình thuộc về để từ đó tạo ra những khả năng thanh lọc văn hóa bên ngoài mà hình thành bản lĩnh văn hóa cũng như ý thức về nguồn cội, giống nòi của các cá nhân cũng như cộng đồng.
4) Giá trị thẩm mỹ. Giá trị thẩm mỹ thể hiện trình độ biểu đạt thẩm mỹ và phương cách biểu đạt cái đẹp, cái vĩnh cửu và cái thiện theo giáo lý của các tôn giáo. Mặt khác, “giá trị thẩm mỹ của tôn giáo còn được biểu đạt trong/qua toàn bộ các “di sản - tài liệu” hữu hình (vật thể) và vô hình (phi vật thể) của thực thể tôn giáo từ kinh, sách giáo lý, kiến trúc, nghệ thuật, cho đến các nghi thức, quy tắc, ký hiệu, biểu tượng và hình tượng diễn tả và giáo lý cơ bản. Những biểu hiện này đều gợi ra ở tín đồ các xúc cảm riêng, mãnh liệt và niềm tin vô bờ vào cái thiêng mà họ tôn thờ” (Nguyễn Quốc Tuấn (2016: 41). Vì thế giá trị thẩm mỹ của tôn giáo là động lực thúc đẩy và tạo nên xúc cảm tôn giáo.
5) Giá trị nhân từ
Những giá trị này định hướng các tín đồ về lòng khoan dung, nhân ái, từ bi, không chấp chước, ở một khía cạnh nhất định nào đó thông qua những trải nghiệm, quy luật mà các tôn giáo rút ra, đã góp phần ngăn chặn bản năng của con người, giúp họ bình tâm và điều chỉnh lòng sân hận do bản năng và sự thiếu hụt trong giáo dục mang lại. Từ phương diện này cho thấy nếu nhìn ở Phật giáo thì những những giáo lý giáo luật đều hướng tín đồ thực hiện các phương châm tu tập, từ bi, hỉ xả, buông bỏ… Khi từ bi sẽ gợi mở lòng nhân, không sát sanh sẽ giúp tăng cường lòng nhân ái, khi buông bỏ sẽ chấm dứt lòng sân hận; những giáo thuyết về nhân quả, nghiệp báo sẽ hạn chế được tính ác trong mỗi con người.v.v…
6) Giá trị truyền thống
Thể hiện của giá trị này chính là sự tiếp nối liên tục, bền bỉ của những trao truyền về tình cảm, nhận thức và hành vi của con người nói chung và của người có niềm tin tôn giáo nói riêng. Giá trị truyền thống còn thể hiện ở “tính ổn định cao của các chuẩn mực và quy tắc ứng xử chỉ có thể hình thành và được trao truyền, kế thừa trong chuỗi thời gian và không gian ổn định, chính thực thể tôn giáo cho thấy nó giữ được tính ổn định đó” (Nguyễn Quốc Tuấn. 2016: 42).
Như vậy, với hệ giá trị này của các tôn giáo ( bao gồm cả các loại hình tôn giáo dân gian) cho thấy khi nhận biết và đánh giá về bất cứ loại hình tôn giáo nào tốt – xấu; dở - hay; tà – chính thì điều đầu tiên là phải xem xét đến các giá trị / hệ giá trị tự thân mà nó xây dựng, đã và đang tuân thủ và phổ truyền trong cộng đồng, được thực thi trong đời sống đức tin cũng như đời sống cá nhân và cộng đồng đó mà đánh giá, nhận định chứ không nên vội vàng quy kết khi chỉ nhìn thấy những biểu hiện bề ngoài.
2.3. Những giá trị nhân văn trong qua nghiên cứu tư liệu, tài liệu, hoạt động của cộng đồng tin – thờ HCM và tại các điện tư gia thờ HCM ở VN
Từ những thông tin của các nghiên cứu đã có về các cộng đồng tin - thờ HCM ở Việt Nam, kết hợp với các nghiên cứu quan sát tham sự, trải nghiệm, tổng hợp từ tư liệu khảo sát thực tế các sinh hoạt hội đoàn của công đồng Tu gia thờ HCM ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy: mặc dù vẫn là những hội đoàn hoạt động tự phát, thậm chí chưa được công nhận và bảo hộ bởi luật pháp nhưng cộng đồng tin - thờ chủ tịch HCM ở Việt Nam đã và đang tuân thủ, phát huy khá nhiều những giá trị nhân văn tốt đẹp. Những giá trị đó thể hiện cả ở trong phương châm sống, lối sống, cam kết noi theo và tổ chức triển khai thành những hoạt động cụ thể có sức thu hút và tác động rất nhiều đến tâm lý, đức tin và lối sống của cộng đồng, cụ thể:
* Giá trị ý thức hệ thể hiện ở cách định vị trong ý thức cộng đồng tâm linh HCM về nguồn gốc lịch sử dân tộc Việt Nam
Người Việt Nam xưa cũng như nay, từ thượng cổ tới hiện đại thì ý thức về con cháu Rồng – Tiên đã trở thành ý thức hệ phổ cập. Nó không chỉ định vị trong ý thức của người dân Việt Nam về nguồn gốc giống loài đẹp đẽ (Tiên – Rồng) của mình mà thông qua đó hình thành một cam kết trăm sông cũng về một biển, 54 dân tộc cũng là anh em. Lịch sử đã chứng minh tinh thần đòan kết, đùm bọc nhau trong gian khó, chiến tranh và khắc nghiệt của thiên nhiên mà viết lên những trang lịch sử oai hùng của dân tộc. Vì thế con cháu Lạc – Hồng trở thành biểu tượng hết sức đẹp đẽ trong ký ức và tâm thức, ý thức dân tộc này.
Trong hầu hết các tư liệu, tài liệu lưu hành trong cộng đồng tin – thờ HCM và tại các cơ sở thờ chủ tịch HCM ở Việt Nam hiện nay mà chúng tôi có dịp khảo sát, tham dự các hoạt động sinh hoạt tập thể đều cho thấy các chủ điện nơi có thờ chủ tịch HCM đều nêu cao ý thức về nguồn cội con Lạc cháu Hồng của người Việt. Ý thức này được thể hiện ra ở rất nhiều hình tướng như tượng thờ Lạc Long Quân – Mẹ Âu Cơ ; Các diễn ngôn về truyền thuyết này thông qua các tư liệu, tài liệu ấn hành nội bộ được cộng đồng gọi là “kinh sách”, “kinh thiên”…do các chủ điện viết ra ( họ được cho là được nhận linh mà viết ra). Khảo qua 108 tập tư liệu tài liệu lưu hành nội bộ của 14 cơ sở thờ HCM ở khắp cả nước cho thấy xuất hiện tần xuất khá nhiều các câu thơ viết về truyền thuyết này. Cụ thể trong “Kinh thiên Đại pháp đoàn tràng tu gia” với 39 bài thơ, văn vần của hội đoàn Hoàng Thiên Long xuất hiện 28 lần các câu thơ hàm chứa nội dung cội nguồn dân tộc như: “ An Nam có thuốc chống phòng/ Nguồn Tiên Âu Lạc – phép trong tâm này” (Hoàng Thiên Long. 2021: V). Khi phê phán những người mượn bóng dáng thầy bà tướng số, tài liệu này ghi “Ai khen mượn xác bóng lồng/ Lãng quên gốc tổ tiên – rồng bước ra” ; “ Kinh tế chính trị muốn giàu đẹp sang/ Phải kính nguồn cội Văn Lang” hoặc “Cha mẹ dặn gấp mau mau/ Con rồng cháu Lạc đừng tranh giàu nghèo”. Khi viếng hồn liệt sĩ có câu “Ơn người chiến sĩ thành đồng/ An Nam Đại Việt, Tiên Rồng phù duyên” (Hoàng Thiên Long. 2021: 58, 72, 159, 287) . Trong tài liệu “ Kinh Pháp Hoa” của cơ sở 79 mùa xuân ở Vĩnh Phúc với 4 bài niệm xuất hiện tới 48 câu thơ nói về nòi giống Tiên - Rồng của dân tộc: “Việt Nam ta có chủ quyền/ Tổ tiên Rồng Lạc lưu truyền muôn năm” hoặc “ Con rồng cháu Lạc lưu truyền/ Chúng con có tổ, có tiên Lạc Hồng/ Lưu truyền lịch sử non sông/ Chung dòng huyết mạch Lạc Hồng Âu Cơ” (Điện 79 mùa xuân 2023: 2,9). Trong tài liệu “Đạo tâm linh đất Việt – Hành trình theo linh Bác Hồ, quyển 62” của cơ sở Phúc Linh từ (Hải Dương) soạn năm 2023 với 26 bài thơ, văn vần, xuất hiện tới 38 lần các câu thơ về nguồn gốc dân tộc như: “ Nhớ công lao người anh dũng/ Vì quê hương đất nước Lạc Hồng”… “ Đường tu đạo Việt sáng ngời/ Dân nước Âu Lạc nay thờ tỏ thông/ Học tu đúng đạo Tiên, Rồng / Bao đời để lại non sông rõ ràng/ Đường lối thờ tổ Văn Lang/ Mười chín triều đại đàng hoàng hơn xưa” (Phúc Linh Từ: 2023: 31, 49). Trong tài liệu “ Bản tường trình tâm linh đoàn Ngọc Phật thờ HCM huyện Sóc Sơn – TP HN” với nội dung biên chép về nhân sự, tổ chức và các hoạt động của cơ sở thờ HCM gồm 37 trang cũng xuất hiện 08 lần các câu văn, thơ viết về gốc tổ Văn Lang, Âu Lạc: “Văn thơ kinh sử giỏi thông/ Ca ngợi lịch sử cha Rồng mẹ Tiên”; hoặc “Tôi xin Ngọc Phật Chí Minh/ Cứu lấy con cháu Tiên, Rồng – Lạc – Âu”; “Tôi dạy đạo lý tôn thờ/ Uồng nước nhớ nguồn, nhớ đến tổ tông/ Nhớ về cha, mẹ Rồng, Tiên/ Mười tám triều đại Vua Hùng dựng nước Văn Lang”; hoặc “ Đạo Bác là đạo Rồng, Tiên/ để cho quốc thái, dân an muôn đời”. Trong tài liệu “ Đạo trời nước VN, Đạo tâm linh đặc biệt” của cơ sở đền Hòa Bình (Hải Dương) với 30 bài thơ được cho là linh giáng xuất hiện 50 câu thơ, khổ thơ viết về cội nguồn dân tộc: “Cha mẹ đã nhất lời thề/ sinh con trọn về trai gái một trăm” hoặc “ Nối đời dòng tộc quốc gia / Mẹ tổ nước nhà chính thực Âu cơ/ Cha lạc Long quân bấy giờ/ Sinh ra dòng tộc xưa giờ mai sau” (Đền Hòa Bình. 2013 – 2015: 24- 25).v.v…
Không chỉ dừng ở làm thơ tuyền truyền về cội nguồn dân tộc, có những cơ sở còn đặc biệt mời cả nghệ sĩ ưu tú của đoàn nghệ thuật quân đội về dàn dựng thành diễn xướng nghệ thuật cho hội viên của mình thực hành biểu diễn trong những ngày lễ trọng. Cơ sở thờ Ngọc Phật HCM của bà Vũ Thị Nh ở Hiền Minh (Sóc Sơn) Hà Nội là một điển hình. Ở đó diễn xướng về nguồn cội con Hồng cháu Lạc và lịch sử Việt Nam từ thượng cổ chí kim và công cuộc trường chinh giữ nước đã được một nghệ sĩ ưu tú dàn dựng và thể hiện bởi các hội viên tại đây biểu diễn rất sinh động trong các dịp lễ trọng mùng 2/9 hằng năm. Điều đáng lưu ý là với những con người chỉ có trình độ văn hóa tiểu học, tuổi cao, chủ yếu là nông dân, lại có cả những nhóm yếu thế trong xã hội như gay, tâm thần phân liệt…tham gia diễn xướng và tự họ thâu nhận được lịch sử dân tộc cảm nhận được giá trị của cuộc sống thông qua các tiết mục biểu diễn múa, hoạt cảnh về cuộc trường chinh giữ nước. Với một tầng lớp mà trình độ đào tạo hạn chế, lại chủ yếu tư duy về lịch sử dân tộc bằng truyền thuyết và ký ức thì một lối dạy sử bằng thơ, văn vần, bằng hình, bằng ngôn ngữ nghệ thuật cơ thể, ca từ… không chỉ tăng hiệu quả hấp thụ tri thức lịch sử mà còn góp phần điều chỉnh tâm lý sống và trạng thái cảm xúc của các cá nhân.
Những câu hát như: “Mẹ Âu cơ với bọc trăm con/ 50 xuống biển, 50 lên non, cả triệu cháu con hòa cùng một nhịp…” được hát một cách thích thú bởi cậu trai gay từng bị tâm thần phân liệt được gửi đến đây chữa bệnh bằng “Tâm Linh Bác” đã chứng minh một cách hiệu quả rõ rệt về tác dụng của nghệ thuật trong điều chỉnh trạng thái tâm lý con người. Những phỏng vấn sâu tại đây đã cho biết chính những tiết mục văn hóa, văn nghệ đó đã gim vào ý thức, tâm thức từng cá nhân về cội nguồn dân tộc.
Rõ ràng dù không hiểu hết được về giá trị ý thức hệ hay chức năng tập hợp quần chúng của tín ngưỡng tôn giáo nhưng quả thật các cơ sở thờ HCM hiện nay ở VN đã và đang thực thi một hoạt động thầm lặng nhưng ý nghĩa rất lớn lao đó là khắc vào tâm khảm các hội viên của mình ý thức về cội nguồn dân tộc – quốc gia – đất nước. Từ ý thức đó mà hàng loạt các ứng xử khác kéo theo như khuyến khích hội viên của mình tuân thủ nguyên tắc người Việt Nam thờ tổ Việt Nam. Với Phương châm: “trên thờ tổ nước, dưới tổ nhà” đã thành mực thước, quy cách thiết kế ban thờ trong các gia đình có thờ Hồ Chí Minh.
Ban thờ HCM tại gia đình luôn luôn được thiết kế theo khuôn mẫu: chính giữa là ảnh/ tượng Bác Hồ, hai bên là cờ búa liềm (cờ Đảng) và cờ Tổ Quốc, phía dưới là ảnh thờ hai bên gia tiên Nội – Ngoại (xem ảnh)
Ban thờ HCM ở tư gia của hội viên
Ban thờ HCM tại điện Đại Phúc Phúc
Thực tế này cho thấy các tài liệu lưu hành trong cộng đồng thờ HCM không chỉ là những công cụ hướng dẫn hội viên thực hành niềm tin thờ Bác mà qua việc đọc các tư liệu, tài liệu đó hằng ngày cùng với các hoạt động sinh hoạt hội đoàn tập thể tại các cơ sở thờ HCM dù vô thức hay hữu thức đã và đang thể hiện giá trị ý thức hệ rất rõ rệt đó là ý thức hệ về cội nguồn dân tộc, nó không chỉ thể hiện lòng tự hào về cội nguồn đẹp đẽ mang tính linh thiêng mà thông qua các bài văn vần các hội đoàn thờ HCM còn có ý thức rất cao về giáo dục lịch sử dân tộc trong cộng đồng của mình, đó là cách viết sử bằng thơ, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ hiểu mà Hồ Chủ Tịch đương thời khi còn sống thường áp dụng. Những câu thơ “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Lạc Long quân là tổ nước ta/ Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang…” được cộng đồng tin – thờ HCM thuộc nằm mình. Hay phương châm “Biết giữ gia phong, kính cội nguồn” (Phúc Linh Từ. 2022: 54) là thế ứng xử chính trong đời sống tâm linh cá nhân và gia đình tin – thờ HCM.
Ngoài ra trong rất nhiều các tư liệu lưu hành trong các nhóm tin - thờ HCM đều phản ánh khá nhiều các nội dung liên quan đến các cuộc chường trinh giữ nước của dân tộc trải qua các triều đại như kháng chiến chống Nguyên Mông: “Ba lần thắng trận lừng công/ Theo Trần Hưng Đạo lập công thắng thù/ Đất nước an thịnh ngàn thu/ Có công trời đất đắp bù cho dân” (Đền hòa Bình. 106). Như vậy, khi ta thừa nhận “các tôn giáo dân gian (tín ngưỡng) ở VN tồn tại như một tài liệu dã sử về quá trình hình thành và phát triển của các cộng đồng tộc người ở VN” (Nguyễn Ngọc Mai. 2016) thì cũng thấy rất rõ những nội dung này trong các tư liệu, tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng tin - thờ HCM. Nó không chỉ thể hiện rất rõ những thông tin về lịch sử đơn thuần mà còn có tác dụng giáo dục về lịch sử .
Không chỉ dừng ở việc thờ HCM, nhiều cơ sở phối thờ thêm các anh hùng dân tộc như đền Thiên Phúc (Hải Minh, Hải Hậu) thờ 117 pho tượng bao gồm cả HCM và các anh hùng dân tộc từ cổ chí kim; Đền Hòa Bình thờ HCM và bộ ba Trần Nhân Tông – Pháp Loa – Huyền Quang; Đền Hoàng Thiên Long thờ HCM và Đại tướng Võ Nguyên giáp và các anh hùng liệt sĩ…. Các tài liệu lưu hành nội bộ trong cộng đồng này có rất nhiều các bài thơ ngợi ca các anh hùng dân tộc đứng đầu là ngợi ca HCM và kể lại các sự kiện lịch sử cũng như các danh nhân văn hóa nước nhà: “ Côn Sơn Kiếp Bạc của Thần/ Thái sư Nguyễn Trãi, thánh nhân nước nhà/ Phật tổ Trúc lâm nước ta/ Ba phật trên tòa, thờ ở ba nơi; Chu Văn An, nổi tiếng hay/ Thầy giáo hiển thánh nước này Việt Nam” (Đền Hòa Bình. 2025: 17 – 18); “ Hai vua Bà trí kiên cường/ Dẹp giặc Đông Hán phơi xương đầy đường/ Triệu Trih dẹp Ngô tai ương Lý Bí đánh giặc Lương chết nhiều” (Nguyễn Thị Huệ. Văn hóa giáng linh xây dựng, 9:50); Phụ nữ nước Việt sáng ngời lương tâm/ Hai vua bà đã cầm quân/ Chiêu binh luyện tướng chuyên cần khắp nơi/ Khi giặc kéo đến như ruồi/ Bà đã vùng dậy để thời diệt ngay… (Nguyễn Thị Huệ. Văn hóa giáng linh xây dựng. tập 9: 73).
Khi nghiên cứu về tôn giáo dân gian VN ta thấy biểu hiện rõ rệt nhất là sự hiện diện của tục thờ vua tổ và các anh hùng, có danh, vô danh mà các ngôi đền, đình đang lưu giữ hiện nay như một bằng chứng hùng hồn về một chặng đường đấu tranh, xây dựng và gìn giữ độc lập dân tộc. Quan trọng hơn sự thật đó còn là sự khẳng định quyền sở hữu, quyền hùng cứ một phương của cư dân VN từ thủa Lạc Việt. Nối tiếp Hùng, Thục và sau này là hàng loạt các đền thờ vua Đinh – Lê – Lý – Trần – Nguyễn đã trở thành những điểm mốc của lịch sử dân tộc VN, đánh dấu những chặng đường phát triển và tự hoàn thiện của một dân tộc từ chỗ chỉ là những thế lực địa phương đơn lẻ thành quốc gia quân chủ tập quyền. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đóng một cái đinh trong ý thức hệ của người dân VN về tinh thần độc lập, tự cường và ý chí không chịu khuất phục ngoại bang. Tinh thần đó thể hiện khá rõ rệt trong “Nam quốc sơn hà” của thế kỷ X đã “phản ảnh ý thức tự chủ cao độ của tập đoàn cư dân sông Hồng” (Tạ Chí Đại Trường. 2011: 32). Khi ta thừa nhận giá trị này ở các tôn giáo dân gian thì việc tin và thờ HCM ở Việt Nam hiện nay cũng chính là tiếp nối dòng chảy thờ người có công với nước. Việc sáng tác những bài thơ, văn vần ngợi ca HCM hay các anh hùng, nhà văn hóa của dân tộc của các cơ sở thờ HCM cũng chính là những biểu hiện của ý thức hệ về nòi giống, về lịch sử anh hùng của dân tộc và lòng tự hào với những trang hào kiệt nổi lên như một dòng chảy xuyên suốt qua các bài văn vần!.
* Giá trị luân lý và đạo đức thể hiện ở những chiều kích ứng xử với người có công và hướng hội viên tu dưỡng theo đạo đức HCM
Giá trị luân lý và đạo đức cũng là một trong những giá trị nổi trội của các tín ngưỡng, tôn giáo. Ở khía cạnh này các tôn giáo thông qua giáo lý, giáo luật của mình đã tạo ra không chỉ những khuôn mẫu hình ảnh biểu tượng về đạo đức của giáo chủ mà còn bằng những kinh bổn răn dạy và kích hoạt các bản tính lương thiện ở con người, dùng giáo luật để khuôn bó tín đồ thực hành những hành vi lương thiện hướng đến đời sống đạo đức. Các nội dung sinh hoạt của hội đoàn của các cơ sở tin – thờ HCM cũng theo chiều hướng ấy. Hầu hết các cơ sở không có giáo lý, giáo luật mà chỉ có các bài thơ, văn vần ngợi ca HCM như một biểu tượng về đạo đức cao cả mà bất cứ ai tin – thờ Bác đều phải theo: “ Cúi đầu công Bác con ơn/ Tích cao như núi Thái Sơn hiền hòa”; “Đường cách mạng phong trào gió cuốn/ Chấp phong ba cuồn cuộn tiến lên/ Đường cách mạng tin tưởng vững bền/ Đường Đảng Bác làm nền móng rộng”; “Dựng thờ quyết giữ uy linh/ Tinh thần nhân thiện – Hồ Chí Mimh tên vàng” (Hoàng Thiên Long. 2021: 174, 220, 306). Ơn Bác, nguyện sống và làm theo tấm gương đạo đức của HCM cũng chính là mục tiêu, chương trình hành động, chủ đề các cuộc thi mà Đảng và nhà nước cùng các tổ chức chính trị xã hội phát động rầm rộ trong hơn 20 năm trở lại đây. Vậy thì tuyên truyền điều này, cách này ở các sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM là đáng được ghi nhận.
Luân lý và đạo lý Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn”. Đó không chỉ là tiêu chuẩn, thứơc đo đạo đức con người mà còn là quy định về chiều kích ứng xử của hiện tại với quá khứ. Thờ người có công là biểu hiện cụ thể của chiều kích ấy. Trong các cơ sở tin – thờ HCM và các sinh hoạt hội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM thì chiều kích ứng xử này được coi như một quy phạm đạo đức không thể thiếu. Nó không chỉ thể hiện ở tên “hội đoàn đền ơn đáp nghĩa” mà còn thể hiện rất nhiều trong các bài văn vần, thơ lục bát mà các chủ điện thờ HCM viết ra. Văn vần là thứ dễ thuộc, dễ nhớ vì thế văn vần đã trở thành vũ khí lợi hại khi tuyên truyền đối với dân nghèo mà có trình độ đào tạo thấp.
Kết quả điều tra XHH của đề tài “Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” cho biết về trình độ học vấn của hội viên như sau: 0,5% không biết chữ; 14,9% tiểu học; 56,7% trung học cơ sở; 22,3% trung học phổ thông; 2,3% Trung cấp, đại học và 3,3% trên đại học .
Như vậy đa số học viên là trình độ phổ thông cơ sở (56,7%), nếu tính cả tiểu học và không biết chữ thì tổng số hội viên có trình độ đào tạo thấp lên tới 72,1%. Nếu như trước đây Bác Hồ triệt để sử dụng hình thức tuyền truyền này để kêu gọi quốc dân đồng bào. Thì ngày nay tại các điện tư gia thờ HCM hàng trăm tài liệu văn vần như thế đang được truyền tay nhau đọc, học và thuộc lòng, nó không chỉ là tài liệu hướng dẫn họ thực hành, tu tập tại nhà mà còn có tác dụng phổ biến và khuyến khích các hội viên thực hiện đạo lý uống ước nhớ nguồn: biết ơn người có công dựng và giữ nước, biết ơn liệt sĩ hy sinh cho độc lập tự do dân tộc:
“ Đạo nước Nam mãi mãi vang lời/ Thờ và cúng ơn người đánh giặc/ Để bảo vệ cho người và xã tắc/ Dạy người dân phải biết tôn thờ” hoặc: “Ơn tổ tông ơn dòng tộc nước/ Ơn bao đời hy sinh kiếp trước/ Có hồn thiêng đất nước giúp dân/ Có bao hồn liệt sĩ giúp trần”(đền Hòa Bình.2013- 2015: 7: 31)…
Ơn là biểu hiện của thế ứng xử. Mang ơn, biết ơn, ghi nhớ công ơn …là những khái niệm chỉ thái độ ứng xử của các chủ thể. Khi đã biết ơn thì hệ quy chiếu là ghi nhớ để tìm cơ hội báo đáp; hành động để đền đáp lại; sống xứng đáng đề đền đáp…; Với các lực lượng đã mất thì kính ngưỡng và thờ phụng. Ơn tổ tiên dẫn đến đạo thờ tổ tiên, ơn các anh hùng dân tộc dẫn đến đạo thờ thần/ thờ người có công ở VN. Vậy ơn Bác thì việc đền thờ Bác ra đời hôm nay cũng là tất yếu!
Điểm đặc biệt là bên cạnh việc thờ HCM, hầu hết các cơ sở đều phối thờ thêm các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong suốt các cuộc trường chinh dựng và giữ nước. Đây cũng là điểm hết sức đáng suy ngẫm. Việc thờ các anh hùng liệt sĩ không chỉ ở ảnh, tượng mà hầu hết các chủ điện tư gia có thờ HCM đã cùng với hội viên cốt cán của mình đi khắp đất nước, họ đến các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước, đến những nơi ghi dấu các liệt sĩ hy sinh như đường trường Sơn, dòng sông Thạch Hãn và bằng tất cả tấm lòng, thuật chú và kỹ năng dân gian có được để chiêu mộ/ thỉnh mời các linh hồn liệt sĩ cả hữu danh và vô danh về tụ lại trên ban thờ để cộng đồng
được tri ân bằng những nghĩa cử rất long trọng trong những ngày đại lễ của dân tộc như ngày 27/ 7; ngày 2/ 9; ngày 22/ 12.
Tại đây vào những ngày này tất cả các hội viên trong cả nước ai theo điện nào đều tụ về điện đó để dâng mâm lễ nhỏ dù mặn, dù chay và thắp hương kính Bác và kính các anh hùng liệt sĩ để tỏ lòng tri ân. Chứng kiến các hoạt động này ở đền Thiên Phúc (Nam Định) với gần 600 con người trên cả nước về hành lễ tri ân anh hùng liệt sĩ rất nghiêm túc. Hành động này chắc chắn khiến thân nhân và tâm nguyện các linh hồn liệt sĩ dù có ở cảnh giới nào cũng có thể ngậm cười khi biết các thế hệ ngày nay chưa bao giờ quên ân nghĩa ấy. Hoạt động này đã trở thành điểm mạnh có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cộng đồng, trong đó đặc biệt là phụ nữ, có thân nhân là liệt sĩ và thương bệnh binh
Thống kê qua khảo sát thực tế các hội đoàn tin – thờ HCM cho thấy các điện tư gia có thờ HCM có số lượng hội viên có thân nhân là liệt sĩ; thương bệnh binh khá nhiều: Điện Thiên Phúc có 555 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên, trong đó 97 hội viên có thân nhân là liệt sĩ; 53 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh. Điện Hòa Bình có 600 hội viên tham gia sinh hoạt, trong đó có 162 hội viên có thân nhân là liệt sĩ và thương bệnh binh; 53 Cựu chiến binh đang trực tiếp tham gia sinh hoạt hội đoàn tại đây; Điện Phúc Linh có 100 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên, trong đó 20 hội viên là thân nhân liệt sĩ, 40 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh. Thống kê chưa đầy đủ các hội viên của hội đoàn Hoàng Thiên Long trê cả nước có 35. 926 hội viên trong đó có 1.114 hội viên có thân nhân là là liệt sĩ và 492 hội viên có thân nhân là thương bệnh binh, chưa kể các con số về cựu chiến binh tham gia những hội đoàn này .
Việt Nam là một đất nước trải qua rất nhiều chiến tranh từ dựng nước đến nay. Con số thống kê về liệt sĩ, thương bệnh binh cũng chỉ thống kê đươc các liệt sĩ hữu danh và vô danh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ - chống Tàu thời hiện đại. Vậy còn hàng triệu triệu liệt sĩ ngã xuống trong kháng chiến chống Hán – Đường - Tống – Nguyên – Minh – Thanh trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử trường chinh giữ nước thì chưa và không bao giờ có thể thống kê nổi. Hiện tại ở Việt Nam đã và đang có những nghĩa trang liệt sĩ nào đã và đang thờ những liệt sĩ vô danh này ?. Biểu tượng nào để diễn tả hết máu xương của người dân Đại Việt đã đổ xuống để gìn giữ non sông? . Tất cả họ đã trở thành những anh linh – khí thiêng của dân tộc, đất nước. Vì thế mà biểu tượng cờ đỏ sao vàng trên ban thờ - không gian thiêng, không gian được tôn trọng nhất trong gia đình các hội viên tin – thờ HCM không chỉ thể hiện màu máu, màu hạnh phúc mà đó là “hồn nước”, hồn dân tộc. Câu quốc ca “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước” mỗi khi vang lên và trở thành nghi thức chính thức trong các cuộc lễ tại các điện thờ tư gia thờ HCM đều thức dậy trong tâm khảm mỗi con người VN về một luồng sinh khí lớn lao chưa bao giờ đứt đoạn của dân tộc đau thương mất mát và anh hùng.
Như vậy, với những cách thể hiện giản dị nhưng mang đầy ý nghĩa lễ thức đầu tiên, quan trọng và rất nhạy cảm của tất cả các cơ sở thờ tin – thờ HCM ở Việt Nam khi bắt đầu của một buổi sinh hoạt của hội đoàn. “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước” đã trở thành biểu tượng rất có ý nghĩa nhân văn và là một hình tướng không thể thiếu trên ban thờ tại nhà các hội viên tin - thờ HCM. Ý nghĩa ở đây không chỉ giáo dục về lòng biết ơn, tinh thần yêu nước, mà nhắc nhở mỗi con người về cái giá phải trả cho độc lập tự do hôm nay.
Cùng với hàng loạt các hoạt động khác như diễn xướng về lịch sử dân tộc từ thủa Hồng Bàng đến nay; hát các bài ca cách mạng; Báo công dâng bác và tặng quà các gia đình liệt sĩ tại các cơ sở Thờ HCM trong ngày 27/ 7 hằng năm …không chỉ răn dạy cho các hội viên phải biết uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa với tổ tiên đất nước, với tổ tiên dòng tộc gia đình mà còn giáo dục về tinh thần chống ngoại xâm thường trực. Điều này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nó không chỉ nhắc nhở mỗi cá nhân về cái giá của dân tộc này đã phải trả để có độc lập tự do mà đặc biệt với những tầng lớp dân nghèo, ít học cũng thấm rất sâu nghĩa cử uống nước nhớ nguồn, có được hòa bình là đổi bởi máu xương. Từ đó thức dậy, hình thành lòng yêu nước, yêu cộng đồng mình và |tu dưỡng tại gia là cách để mỗi người sửa tâm và tính mình trong cuộc sống với người thân gia đình để xứng đáng là con cháu Tiên – Rồng. Ý nghĩa của việc đặt /gọi “hội tu gia” của các hội viên tin – thờ HCM là mang nội hàm đó. Các phương châm như “lấm rửa, lệch kê” là cách nói dân gian hàm ý chỉ ai chưa sạch tâm hồn thì phải tu dưỡng cho thanh sạch; ai thấy cuộc sống còn chông chênh, hành vi, nhận thức còn lệch chuẩn thì phải tìm cách điều chỉnh để cân bằng lại cuộc sống. Vậy “rửa” bằng cách nào và “kê” bằng cách nào?. Các tài liệu lưu hành trong cộng đồng thờ HCM khuyên các hội viên như sau:
1) Tuân thủ theo mô hình tâm linh mới: “Phía trần: Nhà nước Việt Nam ta có một Đảng duy nhất, hướng về tổ quốc quang vinh giàu đẹp, Việt Nam ta phải thờ ta”. Phía Âm “ hình ảnh gia đình là hình ảnh thu nhỏ của tổ quốc. Ta hãy nên nghiêm lệnh thực hiện theo đường lối văn minh của thời đại mới: Việt Nam ta phải thờ ta/ Việt Nam mới sáng tổ tiên nhà” (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên: 2021: 8).
2) Mỗi người phải tu tâm dưỡng tính: “Tu tâm tích đức, thiện thật thà”); “ sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ Vĩ đại, Cần – Kiệm – Liêm – chính – Chí – Công - Vô tư. Đó là liều thuốc bổ nâng cấp tinh thần cho mỗi chúng ta”(Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 20). Bên cạnh đó các chủ điện còn tận dụng tối đa truyền thống tu dưỡng của văn hóa Việt Nam đó là “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Giải thích về tu tại gia cho biết: “Tu gia có nghĩa tu tại nhà/ Ai chẳng có cửa có nhà/ Ai chẳng có mẹ có cha sinh mình/ Đó là khắc cốt của cả công trình/ Cho nên răn dạy – chớ quên lãng mình ai sinh”; Hoặc “Kêu gọi cả nước đồng bào/ Giải trừ án nghiệp – đi vào tu gia/ chính là thờ mẹ kính cha/ Là thờ gốc tổ đạo nhà Việt Nam” (Hoàng thiên long - Kinh thiên. 2021: 22, 76). Trong tài liệu của hội đoàn Hoàng Thiên Long còn phổ biến 5 biến kinh dùng để cho các hội viên niệm hằng ngày tại nhà khi dâng hương tổ tiên, và kính Bác. Có thể thấy ngay hội viên thuộc nằm mình những câu như “ La vô con niệm Phật đà/ Con nguyện chí hướng thật thà tu ngoan/ Con nguyện giấy rách giữ lề/ Còn lấm xin rửa lệch xin kê bằng/ La vô con nguyện nghiệp căn/ Con xin tu sửa ở ăn đường đời/ La vô con niệm tâm chay/ ăn mặn nói thật mới dày đức lương”; “ sống sao cho đẹp cõi lòng/ Bậc sang đạo nghĩa sáng trong tâm hồn/ Lưu danh chính đạo bảo tồn/ Tu gia trừ nghiệp mát hồn tổ tiên” (Hoàng Thiên Long - Kinh thiên. 2021: 108, 109. 214).
Những câu chữ này có thể ở góc độ nào đó còn chưa phải là những mỹ từ hay tiêu chuẩn “thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc” nhưng rõ ràng là tác dụng hữu hiệu bởi gần gũi dễ hiểu dễ đọc, dễ thuộc. Giáo dục đạo đức mà nhẹ nhàng, thiết thực, hiệu quả!
Điều tra XHH của chúng tôi trên tổng 2014 hội viên các hội đoàn tin – thờ HCM trên cả nước cho biết tỷ lệ trên 90% các hội viên tham gia phỏng vấn phiếu cho biết kinh sách tài liệu dễ hiểu, dễ đọc và phủ hợp với hội viên (xem bảng biểu )
Như vậy, thông qua việc thờ chủ tịch HCM – Danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc của thế kỷ XX. Việc thờ HCM không chỉ là thể hiện lòng biết ơn với công lao trời biển của Người mà ở đây hình tượng về Bác đã trở thành bệ đỡ của niềm tin xã hội, tình cảm con người và là mẫu mực của đạo lý sống. Việc lấy tư cách đạo đức của HCM làm thước đo, làm phương châm tu dưỡng đạo đức tại gia của các hội viên, cộng đồng tin – thờ HCM và phương châm kính tổ tiên nhà là một điểm tích cực có ý nghĩa nhân văn đáng ghi nhận. Xét về mặt giá trị thì những nội dung tu tập này cũng là biểu hiện của khía cạnh luân lý – đạo đức.
3) Khuyến khích hội viên nói không với mê tín dị đoan. Đi sâu vào nghiên cứu đời sống tâm linh tinh thần của các hội viên Tin – thờ HCM mới thấy rất rõ tinh thần chống mê tí dị đoan của họ. Điểm rõ nhất có thể nhận ra ngay đó là phương châm mỗi người tự làm thầy trong gia đình của mình. Tự mình làm các lễ thức cúng gia tiên trong nhà; không mời thầy bà cúng quải, không câu nệ xem ngày giờ; không đốt vàng mã; giảm tiện tối đa cúng mặn. Ngày lễ trong gia đình chỉ có hương, hoa, quả tươi (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 10,11)
Cúng quải, độ âm, độ dương vốn dĩ là việc làm của thầy Cúng, thầy Pháp, các ông Thống, ông Mo, Bà Mỡi… và cũng trở thành một thói quen, lệ tục đã từng tồn tại ở VN hàng nghìn năm qua. Hoạt động cúng quải diễn ra thường xuyên liên tục trong mỗi gia đình, đời người. Nhưng cúng quải ở đây mà các hội viên hội tu gia thờ HCM kiên quyết bài trừ đó là việc rước các thầy cúng về nhà cúng dâng sao, giải hạn, cúng giải oan cắt nghiệp; cúng vong oan gia trái chủ, cúng đuổi ma trừ tà, gọi hồn…là những hoạt động mang tính tôn giáo diễn ra không mới nhưng khá là bất cập trong đời sống tâm linh tinh thần của người VN trong nhiều trường đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc và cũng trở nên khá sôi nổi trong những năm gần đây nếu như không muốn nói là thành vấn đề xã hội lợi ít hại nhiều.
Viết về thói quen này của người Việt trước đây, Toan Ánh cho biết: “Dân ta tôn thờ và tin tưởng những sức mạnh vô hình chính là vì ân, nghĩa và vì lễ vậy” (Toan Ánh. 1992: 17) vì thế các hoạt động cúng, vái thực chất chỉ là việc giữ lễ. Tuy nhiên, không phải bất kỳ người dân VN nào cũng hiểu được ý nghĩa này, vì thế mà có người thì làm quá lên, có người thì không biết làm thế nào cho phải, vậy là bài toán đơn giản nhất là mượn thầy (bói, cúng, Đồng, tu sĩ)…và mọi tệ hại cũng bắt đầu từ những phán bảo của các ông thầy này mà làm ra hệ lụy.
Phát biểu về tình trạng tôn giáo này L.Cadier cho rằng tôn giáo của người Việt là tôn giáo “thờ quỷ thần”; “Ở đâu trên đất nước này cũng có sự hiện diện của thần linh, ma quỷ... Cụ thể là mọi hành vi thao tác của họ đều quanh quẩn với các đấng siêu nhiên, biểu hiện ở “tổng thể những nghi lễ, những động tác, những thực hành, những thể hiện thầm kín, những cảm thức tâm hồn bao trùm lấy cuộc sống thường nhật” (Leopold Cadiere, Đỗ Trinh Huệ dịch. 2010: 26). Phạm Việt Tuyền trong nghiên cứu về tính cách người phụ nữ Nam bộ cuối XIX cũng phát biểu “Tính người mau lẹ, nữ công tinh xảo, hay đi thuyền, giỏi nghề bơi sông nước, ưa nóng ghét lạnh, bệnh tật ít hay tìm thầy thuốc, ưa dùng đồng bóng và thầy phù pháp Cao Man” (Phạm Việt Tuyền.1974: 80) .
Vấn đề ở đây là các cúng quải này không chứng minh được hiệu quả của nó mà để lại hệ lụy rất đáng lưu ý như gây tốn kém, tạo ra nỗi sợ hãi, mâu thuẫn trong gia đình và nhiều hệ lụy đã từng xảy ra mà báo chí đã phanh phui như vụ chùa Ba vàng với các lễ cúng vong oan gia trái chủ năm 2018 - 2019; Những lễ cúng vong cho gia chủ Hà Nội chi phí tới 80 triệu đồng; tình trạng cúng giải hạn kinh khủng ở chùa Phúc Khánh (Hà Nội) và vô vàn các hệ lụy khác mà báo chí đã đăng tải trong những năm gần đây. Đi liền với các hoạt động cúng quải này là các chi phí liên quan đến lễ cúng: chay – mặn; vàng mã và những bói đoán phán bảo của các thầy cúng, thầy bói… lợi thì chưa thấy mà hại thì thấy ngay đó là sự tốn kém về tiền bạc. Con số “đốt vàng mã tiêu tốn tới 30.000 tấn giấy, trị giá 300 tỷ đồng” (Lê Hồng Lý. 2008: 356), chưa kể tốn kém về thời gian cũng như những bất ổn về an ninh tinh thần khi mà chờ đợi để được làm lễ giải hạn tới 5 tiếng tại chùa Phúc Khánh (Tuấn Anh – Văn Thắng. Báo lao động: 18/2/2019). Nắm bắt được tình trạng này hầu hết các cơ sở thờ tin – thờ HCM đều khuyến cáo hội viên của mình tẩy chay với hoạt động này. Trong đó nhóm hội đoàn Hoàng Thiên Long cực lực phản đối và tuyệt giao gần như triệt để. Điều này không chỉ mang lại một lối sống mới tiến bộ, và cắt giải những u ám về tinh thần mà rất nhiều các thầy cúng hiện nay đã và đang gieo vào đời sống tinh thần nhiều cá nhân và gia đình. Xét về phương diện văn hóa, rõ ràng đây là một cuộc cách mạng về phương diện tâm linh, tinh thần với những mũi nhọn đánh thẳng vào những lề lối, tục lệ không còn phù hợp. Ở khía cạnh này cộng đồng tin – thờ HCM xứng đáng được ghi nhận.
* Về phương diện các giá trị thẩm mỹ
Tại các cơ sở thờ HCM cũng như những sinh hoạt đội đoàn của cộng đồng tin – thờ HCM thì giá trị thẩm mỹ có thể thấy trên hai phương diện: 1) Cờ đỏ sao vàng trở thành biểu tượng thiêng liêng được chính thức coi là quốc hồn quốc túy của dân tộc và hình tượng HCM được diễn tả rất cao siêu đẹp đẽ như một hình mẫu đạo đức lý tưởng để cộng đồng hướng tới. 2) Tham gia các sinh hoạt hội đoàn các cá nhân lam lũ nhất trong xã hội cũng có cơ hội được thể hiện phẩm chất tốt đẹp của mình; Cá biệt ở 1 số người cảm xúc tôn giáo trỗi dậy mà xuất lộ những năng khiếu nghệ thuật như làm thơ, ca hát với những bài hát tự sáng tác . Chưa kể đến các thể loại thơ, văn vần mà các chủ điện tư gia thờ HCM sáng tác có đến hàng chục, vài chục, thậm chí hàng trăm cuốn.
Ở phương diện thứ nhất có thể thấy ngay trong các sinh hoạt hội đoàn: chào cờ và hát quốc ca là nghi lễ không thể thiếu, lá cờ đỏ sao vàng trở thành tâm điểm của nghi lễ và là biểu tượng bắt buộc trong trang trí ban thờ tại nhà của Hội viên bên cạnh cờ Đảng. Trong tâm tưởng cộng đồng tin – thờ HCM thì hình tượng Bác Hồ được diễn đạt với vô vàn ngôn từ đẹp đẽ, cao siêu, anh linh với rất nhiều vai trò khác nhau: Là cha già dân tộc, là Ngọc Phật, là vĩ nhân, là thần, là danh nhân văn hóa, người anh hùng giải phóng dân tộc, là anh cả Thiên đình.v.v… Có thể nói Bác là thần chủ và chiếm vị trí ngôi cao nhất thế giới linh thiêng. Những ca ngợi về HCM gần như tràn đầy các bài thơ, trang sách, đại loại như: “ Bác là mặt nguyệt sáng gương/ Soi toàn nhân loại tình thương vô bờ” (Hoàng Thiên Long – Kinh thiên. 2021: 248).
Ở phương diện thứ 2 đó là sự xuất hiện các cảm xúc tích cực của mỗi con người khi tham gia các sinh hoạt hội đoàn gắn với các lễ nghi mang tính tôn giáo. Về mặt lý luận, cảm xúc tôn giáo là một hiện tượng phức tạp nó bao hàm trong mình quan niệm về thế giới thiêng, các giá trị cụ thể, các tâm thế và phản ứng gắn liền với chúng. Cảm xúc tôn giáo khi xuất hiện có ảnh hưởng nhiều đến lối sống và các quan niệm, giá trị của cá nhân chủ thể. Trong tôn giáo nói chung thì tình cảm tôn giáo là yếu tố đóng vai trò như là động lực để định hình niềm tin tôn giáo. Từ khía cạnh này cho thấy tôn giáo vừa có chức năng an ủi, giúp các cá nhân giải toả được các trạng thái stress (căng thẳng thần kinh), tìm đựơc những giaỉ pháp cho một số tình huống mà con người bế tắc trước thực tại cuộc sống. Nghiên cứu của Uliam giêmxơ cho biết cảm xúc tôn giáo mang lại cho con người cảm nhận thấy phép màu; cảm nhận thấy quan niệm mới và các giá trị mới, cảm nhận thấy tính thần thánh và thâm thuý. Khi cảm xúc tôn giáo xâm chiếm toàn bộ con người trí tuệ, tình cảm, giá trị và quan hệ sinh tồn của con người, nó đụng chạm tới ý thức cơ bản và nền tảng về sự nhất thể hoá (Uliam giêmxơ. 2004: 19).
Cảm xúc tôn giáo được lý giải như thế nào lại phụ thuộc vào văn hoá, tư tưởng và ngôn ngữ của mỗi cá nhân, tộc người và được thừa nhận ở thời điểm mà người ta cảm nhận. Trong nhiều trường hợp cảm xúc tôn giáo diễn ra bất ngờ và hướng cuộc sống của con người theo một chiều hướng mới hoàn toàn. Cũng có cảm xúc tôn giáo chợt đến khi người ta đọc kinh bổn hay ngẫm nghĩ về nó, cũng có cảm xúc tôn giáo nảy sinh nhân tế lễ, cầu nguyện hay thực hành các lễ nghi khác mà tín đồ của các tôn giáo sử dụng… Từ đặc tính này mà Uliam giêmxơ đã khẳng định kết quả của sự đi theo tôn giáo là: “Tránh được sự bất an; nhận thức các chân lý trước đó chưa biết; Cảm nhận thấy rằng những chuyển biến khách quan đang diễn ra trong thế giới, nói cách khác, sự đi theo tôn giáo giả định một cái nhìn mới về thế giới, một sự cảm nhận mới, toàn vẹn hơn về bản thân (Uliam giêmxơ. 2004: 19).
Nghiên cứu tổng hợp các thông tin qua 208 câu chuyện cuộc đời (life story) của hội viên tin – thờ HCM cho thấy các cụm từ mô tả về tình trạng sống của bản thân và gia đình sau khi tin – thờ HCM cho biết các cụm từ “gia đình vui vẻ, bản thân thoải mái, hạnh phúc, không lo âu” xuất hiện 166 lần, còn lại 42 lần xuất hiện các cụm từ “ tiết kiệm, sửa sang được nhà cửa, chữa được bệnh tật”(Nguyễn Ngọc Mai. 2025). Điều này chứng tỏ từ khi tin – thờ HCM hầu hết các hội viên hội đoàn tâm linh HCM đều chuyển hoá trạng thái tâm lý tiêu cực sang trạng thái tâm lý tích cực. Đó là chưa kể nếu trực tiếp tham dự các sinh hoạt hội đoàn quan sát nét mặt hân hoan, vui vẻ của từng người, niềm vui khi được hát múa, họ có cơ hội được mặc những tà áo dài vốn là vẻ đẹp và niềm tự hào của phụ nữ, được hát những bài hát, bài thơ tự mình sáng tác sẽ thấy được những tác dụng tích cực do cảm xúc tôn giáo mang lại (xem ảnh)
Bức ảnh chụp hành vi của các hội viên sau khi được hỏi “ai thấy cuộc sống của mình hạnh phúc, vui vẻ hơn sau tin – thờ HCM thì giơ tay?”. Nguồn: Nguyễn Ngọc Mai (tại cơ sở ở An Lão Hải phòng năm 2024)
Thử hình dung một cộng đồng xã hội mà mức thu nhập dưới 5 triệu / tháng chiếm 56,1%, từ 5 triệu – dưới 10 triệu chiếm 28,1%; Nghề nghiệp chủ yếu nông nghiệp chiếm 46,9%, hưu trí 23,7%p; Học vấn tiểu học chiếm 14,9%, trung học cơ sở chiếm 56,7%, trung học phổ thông 22.3% , thì đó là tầng lớp xã hội nào? Có thể trả lời ngay họ là nhóm nghèo có học vấn không cao, thiếu hụt rất nhiều các điều kiện và cơ hội để phát triển con người (chưa kể những thông tin, tín hiệu về giới) . Do đó họ cũng không thể có điều kiện cũng như cơ hội tham gia các sự kiện văn hóa, xã hội, nghệ thuật khác một cách trực tiếp như âm nhạc, phim ảnh, hội họa… để có thể tự giải tỏa, cân bằng trạng thái tâm lý, cảm xúc. Vì thế sinh hoạt hội đoàn với điểm tựa là biểu tượng về HCM, những anh hùng dân tộc và liệt sĩ để tìm sự chở che, nâng đỡ, qua đó có cơ hội thể hiện mình, hòa với cộng đồng cùng niềm tin, ước muốn là nguyện vọng chính đáng. Mỗi người một thân phận, một cuộc đời với những éo le đau khổ khác nhau nhưng một sinh hoạt chung, một niềm tin chung đã mang lại cho họ những trạng thái sống an ổn, vui vẻ thoải mái thì những sinh hoạt đó tất yếu có những giá trị nhân văn.
3. Kết luận:
Cho đến nay hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam đã có quá trình hơn 30 năm hoạt động với nhiều hình thức khác nhau. Chặng đường hơn 30 năm đó của cộng đồng tin – thờ HCM cũng đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động, điều chỉnh. Có tổ chức vỡ ra thành những mảnh nhỏ, hoạt động độc lập theo xu hướng hội đoàn, có tổ chức lớn mạnh theo cách riêng. Nhưng rõ ràng các hoạt động sinh hoạt tâm linh thờ HCM tại gia đình riêng, cũng như các hoạt động của cộng đồng tại các điện thờ tư gia của nhóm xã hội này đã và đang thể hiện nhiều giá trị nhân văn, nhân ái mà bài biết đã trình bày ở trên. Đó là những biểu hiện rất rõ rệt về giá trị ý thức hệ, về luân lý, đạo đức cũng như hàm chứa nhiều giá trị thẩm mỹ, chưa kể những giá trị về giáo dục lịch sử dân tộc, cảm thông đồng loại, hay những tấn công trực diện vào lề thói tục lệ không còn phù hợp, kêu gọi một lối sống mới văn minh hơn cho một tầng lớp có thể nói là chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Điều đó cho thấy hiện tượng tin – thờ HCM cũng là tiếp nối truyền thống văn hóa dân tộc là tin – thờ lãnh tụ và người có công với nước. Dù hình thức hay diễn tiến của loại hình này có thăng trầm ở mức nào thì với sức sống trên 30 năm tồn tại, bản thân nó cũng tỏ rõ tính hữu ích cho một cộng đồng xã hội cụ thể. Nói như E.M Durkhem “cái gì tồn tại nhất định đang đảm nhiệm chức năng xã hội tích cực của nó”!
Tài liệu tham khảo:
1. Toan Ánh (1992), Nếp cũ Tín ngưỡng Việt Nam. Quyển thượng.
2. Tuấn Anh – Văn Thắng (2019) “Xếp hàng trước 5 tiếng ở sân chùa Phúc Khánh chờ cúng Rằm tháng Giêng”. Báo lao động, đăng ngày 18/2/2019.
3. Cơ sở 79 mùa xuân (2023), Kinh Pháp hoa. Tài liệu lưu hành nội bộ.
4. Đền Hòa Bình (2013- 2015), Đạo trời nước VN, Đạo tâm linh đặc biệt. Tài liệu lưu hành nội bộ.
5. Đền Hòa Bình, Lịch sử thánh thần hai đền Khê Khẩu. Quyển số 11. Tài liệu lưu hành nội bộ.
6. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, cơ sở lý luận góp phần đúc kết xây dựng giá trị chung của con người VN thời nay. Nxb Dân trí.
7. Nguyễn Thị Huệ (?) Các Bài hát truyền thống và tiếng hát từ tâm. Tài liệu lưu hành nội bộ.
8. Nguyễn Thị Huệ (1990 – 2024), Văn hóa giáng linh xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN, tài liệu lưu hành nội bộ.
9. Nguyễn Thị Huệ (2016), Việt Nam bốn ngàn năm. Nxb văn hóa dân tộc.
10. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín ngưỡng. Nxb Vhtt.
11. Hoàng Thiên Long (2021), Kinh thiên đại pháp đoàn tràng tu gia. Tài liệu lưu hành nội bộ.
12. M. Rokeach (1973), The Nature of Human Values. New York, The Free Press
13. Nguyễn Ngọc Mai, (2016), “Tìm hiểu các giá trị tôn giáo truyền thống ở VN”. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3.
14. Nguyễn Ngọc Mai (2015), Số liệu tổng hợp câu chuyện cuộc đời đề tài “ Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” thực hiện qua các năm 2024 – 2025 trên địa bàn cả nước.
15. Nguyễn Ngọc Mai (2015), Kết quả khảo sát xã hội học của đề tài cấp bộ “Nghiên cứu hiện tượng thờ HCM ở Việt Nam hiện nay” .
16. Phúc Linh Từ, Đạo tâm linh đất Việt – Hành trình theo linh Bác Hồ”
17. Uliam giêmxơ “đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo” trích theo tài liệu “Triết học tôn giáo”, Nxb chính trị quốc gia, 2004.
18. W. Bilsky etS.Schwartz (1987), Values and personality, http://strandtheory.org/images/Schwartz_Value_Theory.pdf
19. Nguyễn Quốc Tuấn (2016), Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp nhà nước mã số KX.03.11/11-15.
20. Phạm Viêt Tuyền (1974), Cửa vào phong tục Việt Nam. Nxb Sài Gòn, tr 80.
21. Tạ Chí Đại Trường (2011), Thần, Người và đất Việt. Nxb văn học.
22. Tư liệu khảo sát, quan sát tham dự (ghi âm, ảnh chụp, video, ghi chép) tại 14 cơ sở điện tư gia thờ HCM trên cả nước trong các năm 2023 – 2024 – 2025.