Nghiên cứu tôn giáo truyền thống ở Việt Nam những thành tựu và thách thức

Thứ ba - 03/01/2017 11:02
1. Khái niệm về TGTT và những tranh luận
Tôn giáo truyền thống là khái niệm mà Viện nghiên cứu tôn giáo đưa ra trong những năm trở lại đây để chỉ một loại hình tôn giáo vẫn thường được gọi bằng khái niệm tín ngưỡng/ tín ngưỡng dân gian. Trên thực tế thì loại hình tôn giáo này cũng đã được giới học thuật thế giới gọi bằng nhiều khái niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau với loại hình tôn giáo này mà nó được gọi là ‘tôn giáo sơ khai’ (Tocarep); “Tôn giáo nguyên thủy”(Unixôn Uônlixơ); Đa thần luận (Vônnay, 1971 , Oguytsto Conto 1910 ) hay “tôn giáo trình độ thấp” (Tomaxow A helixow (1940); “tôn giáo tự nhiên” (Tile) hoặc “Đa thần giáo”…
Một buổi hầu đồng
Một buổi hầu đồng
Như vậy, để thấy rằng có rất nhiều cách phân loại khác nhau về các loại hình tôn giáo, nhưng có một quan niệm chung nhất giữa các học giả nước ngoài là cho dù phân loại theo cách nào và xếp chúng vào đâu, thì các loại hình này (từ các hình thức như bái vật giáo, tô tem giáo, đa thần giáo… hay những hiện tượng riêng biệt như Phật giáo, Cơ đốc giáo…) đều được vẫn được gọi bằng một khái niệm duy nhất: tôn giáo (Religion), khái niệm belive nếu có được dùng trong các phân tích này đều chỉ niềm tin tôn giáo và tuyệt nhiên không sử dụng khái niệm tín ngưỡng.
Thuật ngữ “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ religio, là tiếng La tinh có nghĩa là “quyền năng” mà con người có niềm tin và lòng mộ đạo hướng tới (Nguyễn thị Hiền. 2008); Sau này Religio lại mang nghĩa nhà thờ (với một cộng đồng con chiên theo đức chúa, trong đó quan hệ thành viên cộng đồng này chi phối tất cả đời sống của họ) và như vậy thì nó được hiểu như là một dạng thiết chế xã hội tách biệt. Đến khoảng thời kỳ trung cổ (từ thế kỷ V – XV) ở Châu Âu thuật ngữ Religio lại mang nghĩa là Tu viện (ám chỉ cuộc sống của các ni cô, thầy tăng). Như vậy, thì thuật ngữ Religio ban đầu không hề có quan điểm phù hợp với quan điểm hiện đại về tôn giáo (Kendall, 2007; Tambiah, 1990). Quá trình thuật ngữ religio đi vào các quốc gia và được hiểu/ phiên dịch thành/ là “tôn giáo” theo như cách hiểu hiện nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “thuật ngữ religion xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên”[1]. Sau khi đạo Kitô xuất hiện, thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ riêng cho đạo Kitô. Đến thế kỷ XVI, cùng với sự ra đời và phát triển của đạo Tin Lành thì “trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, thuật ngữ “religion” mới trở thành một thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn giáo”[2] là Công giáo và Tin lành. Về sau, với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài châu Âu, thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ cho mọi hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới.
          Kendall và Tambiah lại cho rằng đến thời khai sáng (XVIII) tư tưởng châu Âu liên quan đến những kiến thức có hệ thống, sự cố gắng hệ thống hóa tri thức về thế giới tự nhiên và tinh thần vì vậy thuật ngữ “Religion” được xác định như một hệ thống giáo lý gồm những ý tưởng mà những người theo đạo tin vào. Đặc trưng của thời kỳ này là những văn bản, sách giáo lý có giá trị hơn hành động, thực hành nghi lễ. Những khía cạnh vật chất như đồ cúng lễ, tranh, tượng thánh và những nơi thờ tự linh thiêng không được chú trọng (Kendall, 2007; Tambiah 1990). Đến thế kỷ XIX các nhà nghiên cứu tôn giáo đối đầu với những thực hành tôn giáo ngoài phương Tây như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Hin đu giáo được cho là những hệ thống giáo lý khác biệt lý giải duy lý về nhân sinh quan và bản chất của vũ trụ. “Tôn giáo thế giới” lúc này được cho là gắn liền với những truyền thống về văn bản và coi những tôn giáo này quan trọng hơn những tôn giáo không có hệ thống giáo lý. Các hành động mộ đạo, nghi lễ và những trải nghiệm về cái thiêng đứng hàng thứ yếu (Kendall, 2007).
Thực tế này cho thấy, “tôn giáo/ Religio” ban đầu là khái niệm chỉ quyền năng tối thượng (tức đối tượng thiêng); sau này nó dung chứa thêm nội hàm Nhà thờ (và cả cộng đồng giáo hội) cho đến XVI nó chỉ chung các loại hình tôn giáo và đến XVIII thì mới lại dùng để chỉ các tôn giáo có hệ thống giáo lý. Từ đây, quá trình biến đổi của thuật ngữ Religio cộng với nhận thức về nó qua các giai đoạn khác nhau mà làm thành nội hàm của tôn giáo gồm: Thực thể thiêng; đức tin, nhà thờ, cộng đồng đức tin và giáo lý.
Quan điểm này lại có những thay đổi khi có sự tiếp xúc với các nền văn minh ngoài châu Âu, nhiều nhà khoa học phương Tây nhận ra rằng nếu áp dụng những hiểu biết về “tôn giáo” được gọi là “religion” như của châu Âu để nhận diện và tìm hiểu các hình thức tôn giáo ở những xã hội khác là không chính xác. Phải có những học thuyết để lý giải chung cho mọi hình thức tôn giáo, dù xuất hiện ở đâu, vào bất cứ thời điểm nào. Quá trình trở về nguồn, tìm hiểu bản chất đích thực của tôn giáo lại dấy lên. Nhiều nhà khoa học truy nguyên về yếu tố cơ bản nhất của mọi hình thức tôn giáo, đó chính là niềm tin vào đấng tối linh hay rõ hơn là niềm tin tôn giáo (religious belief, croyance religieuse) được đem ra mổ xẻ và coi như là một yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của một tôn giáo.
 Các nghiên cứu về xã hội thông qua các thiết chế tôn giáo trên thế giới của một số học giả thế kỷ XIX – XX khi đưa ra các khái niệm/ quan niệm/ quan điểm về tôn giáo, thiết chế tôn giáo… cũng chủ yếu căn cứ trên hai chiều cạnh: chức năng của tôn giáo và bản thể của tôn giáo (xem Herbert Spencer; Parsons, Merton, Durkheim, Max Weber....) và dù có phân tích theo khía cạnh nào thì các quan điểm của những nhà xã hội học này cũng thể hiện rõ cấu trúc của tôn giáo gồm: niềm tin tôn giáo, các hình thức thực hành tôn giáo và những hình thức cố kết/ liên kết của cộng đồng cùng đức tin. Có thể nói đây cũng là cách tiếp cận cơ bản và hữu dụng nhất để nhận diện về một tôn giáo với tư cách một thực thể xã hội.
Tất cả các luồng quan điểm này đều du nhập vào VN qua các con đường/ kênh học thuật khác nhau vì thế không tránh khỏi sự thiếu thống nhất về phương diện học thuật. Số phận của các loại hình tôn giáo được coi/ gọi/ dán nhãn cho là tín ngưỡng khá “thăng trầm”. Trong giới nghiên cứu thì nghiêng về quan niệm coi đây là một loại hình tiền tôn giáo/ tín ngưỡng (Nguyễn Duy Hinh. 2007); là tôn giáo bản địa – Đạo (Đặng Nghiêm Vạn; Ngô Đức Thịnh). Trong khi đó các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa thì lại mặc định coi đó là tín ngưỡng (với nội hàm một loại hình tồn tại thấp hơn tôn giáo). Tình trạng này kéo dài cho đến nay, vì vậy khi nói đến tôn giáo ở Việt Nam thì người ta nghĩ ngay đến Phật giáo, Công giáo, Islam giáo và Tin lành (sau này có thêm Cao Đài, Hòa Hảo, Tịnh độ cư sĩ Phật hội…). Ngược lại các loại hình khác không hội đủ các điều kiện (thực thể thiêng; đức tin, nhà thờ, cộng đồng tín đồ và giáo lý, giáo hội) đều được xếp vào loại hình tín ngưỡng. Phải nói ngay rằng quan điểm này phổ biến trong giới nghiên cứu văn hóa và quản lý văn hóa, quản lý tôn giáo. Vì vậy mà loại hình TGTT này được xếp thành đối tượng quản lý, theo dõi, nghiên cứu chủ yếu của ngành văn hóa.
          Kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, từ góc độ tiếp cận tôn giáo là một thực thể xã hội với cốt lõi bao gồm 3 yếu tố: niềm tin, thực hành, cộng đồng (xem thêm Nguyễn Quốc Tuấn. 2015) mà Viện nghiên cứu tôn giáo cho rằng cần phải trả lại cho tín ngưỡng dân gian nội hàm đúng và đủ của nó là:  tôn giáo truyền thống; tôn giáo dân gian (hoặc tôn giáo bản địa). Ở bài viết này khái tôn giáo dân gian (TGDG) hoặc tôn giáo bản địa (TGBĐ) được lựa chọn như là một khái niệm là phù hợp với tính chất/ bản chất của loại hình tôn giáo này ở VN. Khi tiếp cận ở phương diện này thì tất cả các loại hình tín ngưỡng dân gian sẽ được coi/ ấn định là tôn giáo với nội hàm tôn giáo và nếu có thể dịch sang tiếng Anh sẽ là: Foklore  religion (tôn giáo dân gian) hoặc tôn giáo bản địa Indigenous religion.
           Về số lượng các loại hình TGDG ở VN rất nhiều, và cũng mang màu sắc địa phương khá đậm nét. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào chủ thể thiêng, cách thức thực hành nghi lễ và quy mô liên kết cộng đồng thì có thể chia thành hai loại hình chính sau:1) Thờ cúng tổ tiên và 2) Thờ thần/ thánh (bao gồm cả nhiên thần và nhân thần). Trong thờ cúng tổ tiên và mở rộng ra là thờ cúng dòng họ thì đối tượng thiêng ở đây chính là linh hồn con người, các thành viên liên kết với nhau theo huyết thống và quy mô thực hành nghi lễ cũng là trong phạm vi gia đình, gia tộc. Còn thờ thần/ thánh thì đối tượng thiêng là các loại linh hồn khác được diễn ngôn  bằng các khái niệm: Linh khí núi sông (thần sông, thần núi, thần rừng, thần đất, thần thổ công, thần tài) hoặc các loại linh hồn của những anh hùng dân tộc chết đi, linh thiêng, hiển linh (được nhà nước phong thần/ thánh) hoặc các thế lực khác có khả năng phù giúp cũng như gây hại (thần cây, thần rắn…), ở trong loại hình này thì thực hành nghi lễ thường theo quy mô cộng đồng, gắn với cộng đồng.
2. Các dạng bài viết/ công trình nghiên cứu đã từng xuất bản ở VN
          Thực trạng về sự chưa thống nhất về TGDG như vậy nên dẫn đến cách tiếp cận về loại hình tôn giáo này xưa cũng như nay có rất nhiều xu hướng và cũng được diễn ngôn/ thể hiện/ nghiên cứu ở nhiều cách khác nhau với những quy mô khác nhau: bài viết đơn lẻ, công trình nghiên cứu tập thể dưới dạng các đề tài khoa học hay các xuất bản phẩm là kết quả của những nghiên cứu cá nhân. Mặc dù sự đóng góp nhiều nhặn của các nghiên cứu như vậy nhưng cách thức tiếp cận cũng như các kết quả là không thống nhất. Thể hiện có dạng chỉ là mô tả thuần túy (có sao nói vậy), có dạng phân tích khái quát, và cũng có dạng đi sâu tìm hiểu và lý giải về bản chất, chức năng của một số hình thức TGDG cụ thể, vì thế mà mức độ, giá trị của các kết quả nghiên cứu cũng khác nhau.
          Thế nào được gọi là một công trình nghiên cứu cũng lại là vấn đề cần được đặt ra và làm rõ ý nghĩa của nó để thấy được độ nông sâu của các bài viết, các công trình viết về TGDG ở VN từ xưa đến nay. Trong nghiên cứu về KHXH từ xưa tới nay vẫn tồn tại 2 dạng nghiên cứu: khảo tả dân tộc học (tức là người nghiên cứu chỉ đơn thuần mô tải lại hiện tượng, sự vật như nó đã xảy ra (ethnographic description). Dạng này đơn giản và cũng là những công trình phổ biến ở Việt Nam xưa cũng như nay. Dạng nghiên cứu thứ hai là nghiên cứu kết hợp giữa mô tả DTH và lồng ghép các phân tích (Ethnographic research...). Nghiên cứu ở dạng này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đưa ra được những căn cứ lý luận, những phân tích đối chiếu cụ thể để chỉ ra được mối liên hệ, bản chất,  nguồn gốc và chức năng của các hiện tượng sự vật đó đối với đời sống xã hội và với con người (những nghiên cứu dạng này không nhiều ở Việt Nam, những năm gần đây mới xuất hiện nhiều, có thể nói ngay rằng đó là những nghiên cứu ảnh hưởng của lối nghiên cứu KHXH của phương Tây).
3. Nghiên cứu TGDG ở Việt Nam bắt đầu từ khi nào?
          Với hai xu hướng nghiên cứu như đã nói ở trên đều xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam nên có thể khẳng định ngay rằng nghiên cứu về TGDG ở Việt Nam xuất hiện từ khá sớm: thời kỳ đầu tiên của kỷ nguyên độc lập, tức là sau khi thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc. Có thể kể ra ngay đó là những ghi chép tản mạn của Trần Thế Pháp với “Lĩnh Nam chích quái’ (ghi chép những việc quái dị ở vùng Lĩnh Nam) sau đó là  những công trình mang tính giản lược chỉ đơn thuần là ghi chép về linh tích, cổ tích, thần phả của các vị thần qua các tài liệu của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ liên  với bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”; Nguyễn Trãi “ Dư Địa Chí”; Lê Quý Đôn “ kiến văn tiểu lục”… Dưới thời Nguyễn với sự ra đời của các bộ sử chính thống của Quốc Sử Quán triều Nguyễn thì cũng thấy phản ảnh về các TGDG dưới dạng các thông tin tản mạn qua các ghi chép về sự thần ở Việt Nam như Đại Nam Hội điển sự lệ; Khâm định Việt Sử thông giám cương mục…Sau này có “Việt sử Lược” của Trần Trọng Kim cũng có đề xuất ít nhiều đến các thông tin về TGDG.
Khi người Pháp vào VN, để phục vụ cho mục đích chinh phục, cai trị dân tôc thuộc địa nên chương trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội đặc biệt là phong tục tập quán và tín ngưỡng được chính quyền thuộc địa cho triển khai một cách khá bài bản dưới sự bảo trợ của một cơ quan trực thuộc phủ toàn quyền lúc đó là Viện Viễn đông Bác cổ. Có thể nói ngay rằng đây cũng là thời kỳ cho những nghiên cứu tương đối bài bản về TGDG của người Việt và một số tộc người thiểu số ở VN với các công trình tiêu biểu của các giáo sĩ, và một số học giả người Pháp vào giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như các nghiên cứu về “Les Mường/ Người Mường” của Cuisinier; về các tộc người miền cao nguyên Trung phần của Henri Maitre “Les Jungles Moi/ Rú Mọi”; Geoeges Condominas “tôi ăn rừng” và L. Cadier - vị linh mục đã dùng cả trái tim của mình nghiên cứu toàn diện về tâm thức và “Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt” ở  miền Trung VN. Tiếp đó là khá nhiều các bài viết, các chuyên khảo nghiên cứu về tôn giáo truyền thống của các học giả Việt Nam như Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục”;  Nguyễn Văn Huyên “Việc thờ cúng các vị Thần bất tử ở Việt Nam”;  Thiện Đình “Nghi lễ phổ thông” ; Toan Ánh “nếp cũ” và nhiều học giả phía Nam như Nguyễn Văn Siêu “Văn Minh Việt Nam”; Phạm Việt Tuyền “Việt Nam Phong Tục”; Nhất Thanh “Đất lề quê thói”…Phải nói rằng với hàng loạt công trình giai đoạn này đã khái quát tương đối đầy đủ đời sống phong tục tập quán và tôn giáo ở nước ta xưa. Có thể khẳng định rằng đây là những thế hệ nghiên cứu đầu đàn thời hiện đại về TGDG ở VN và cũng là những công trình rất phong phú, giá trị về TGDG dù ở góc độ khảo tả hay phân tích. Dù  là người Pháp hay người Việt thì những quan sát, trải nghiệm và cảm nhận về đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam, với các hướng tiếp cận khác nhau (xã hội học tôn giáo, lịch sử tôn giáo, triết học tôn giáo, nhân học tôn giáo, tâm lý học tôn giáo v.v…) đã có những nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống và đặc biệt là về phương pháp đáng để học tập cho các thế hệ sau này. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu TGDG cũng như các tôn giáo khác ở Việt Nam về sau bị “lùi lại” trong giai đoạn chiến tranh giải phóng dân tộc cùng với chính sách cải cách văn hóa có phần “khốc liệt” những năm 1945 - 1975.
Bước vào những năm đầu của thời kỳ độc lập, thống nhất đất nước, cùng với các ngành khoa học khác, nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng cũng được chú trọng hơn. Nhưng vẫn chỉ là những nghiên cứu lồng ghép với các nghiên cứu về văn hóa, lịch sử. Đặc biệt từ sau 1990 sau khi đổi mới, khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo, xác định “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” thì nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam mới dần dần vượt qua phê phán. Cùng với sự bùng phát trở lại của các loại hình TGDG là các nghiên cứu về nó cũng phát triển rất mạnh và hàng loạt các ấn phẩm đã ra đời với đầy đủ các loại hình TGDG đều được khảo tả, phân tích và tìm hiểu trên nhiều chiều cạnh. Trong đó nhiều khía cạnh của TGDG được các tác giả khai thác và làm rõ như: “Các nữ thần ở Việt Nam” (Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị Hảo 1984); “Quanh tín ngưỡng dân dã Mẫu Liễu và điện thờ” (Trần Lâm Biền1990); “góp phần nghiên cứu văn hóa & tộc người” (Nguyễn Từ Chi 1996); “Tín ngưỡng thành hoàng ở VN” (Nguyễn Duy Hinh 1996); “Đạo mẫu ở VN” (Ngô Đức Thịnh, 1994); “Đạo Mẫu và các hình thức Saman ở VN và Châu á” (Ngô Đức Thịnh cb 2004); “Đạo Thánh ở Việt Nam  (Vũ Ngọc Khánh 2001); “Văn hoá tâm linh” (Nguyễn Đăng Duy 2001);  “Niềm tin của con người vào lực lượng Thần Thánh” (Vũ Dũng 2002); “Linh thần Việt Nam” (Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo 2002); “Đồ thờ trong di tích của người Việt” (Trần Lâm Biền 2003); “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” Nguyễn Minh San (1998); “Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nhìn từ một số điện thờ tư gia ở Hà Nội” (Lê Thị Chiêng (2004); “Tâm linh Việt Nam” (Nguyễn Duy Hinh 2007);  “Sự biến đổi  của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay” (nhiều tác giả 2008); “Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng” (Lê Hồng Lý2008); “Tháp bà Thiên Yana hành trình của một nữ thần”  (Ngô Văn Doanh 2009); “Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng” Nguyễn Thị Yên (2009); “ Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị” (Nguyễn Ngọc Mai, 2013); “ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở VN” (Tạ Ngọc Tấn cb 2013). Bên cạnh đó còn rất nhiều các tác giả khác với những nghiên cứu về TGDG ở VN với góc độ văn hóa như “ Tìm về bản sắc văn hóa VN” (Trần Ngọc Thêm, 1990); “Tín ngưỡng & văn hóa tín ngưỡng Việt Nam” (Ngô Đức Thịnh cb, 2001); “ Tín ngưỡng bà chúa kho ở châu thổ Bắc Bộ” (Trần Thị Thủy, LA. 2015)  v.v…
Sự xuất hiện và bùng phát trở lại của các loại hình TGDG ở Việt Nam từ sau 1990 càng làm cho các nghiên cứu về TGDG ; lễ hội dân gian thêm phong phú. Cùng với sự “ra quân” rầm rộ của ngành Foklore học, Văn hóa học với hàng loạt các hội thảo khoa học ngành và liên ngành về TGDG thì ngành nghiên cứu Tôn giáo học cũng được thành lập và trở thành một cơ quan nghiên cứu tôn giáo chuyên biệt: Ban Nghiên cứu Khoa học về Tôn giáo được thành lập ngày 21/3/1991 theo Quyết định số 84/KHXH-TC-ĐT. Sau đó là Viện Nghiên cứu Tôn giáo, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, được thành lập theo Nghị định số 23/CP của Chính phủ ngày 22/5/1993. Viện Nghiên cứu Tôn giáo với chức năng nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo và các tín ngưỡng, tôn giáo trong, ngoài nước nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia phát triển tiềm lực nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo của cả nước.
          Bắt đầu từ đây các nghiên cứu về tôn giáo nói chung, TGDG nói riêng được tiến hành một cách có hệ thống và phân thành các khối chuyên sâu: Tôn giáo nội sinh (Cao đài, Hòa Hảo…); TGDG người Việt; TGDG các dân tộc thiểu số.v.v. Sau đây là khái lược tình hình nghiên cứu tôn giáo dân gian (tức tôn giáo truyền thống) của  Viện Nghiên cứu Tôn giáo trong 25 năm qua.
4.Những thành tựu nghiên cứu về TGDG trong 25 năm qua của Viện NCTG
4.1. Về nghiên cứu lý luận
Trong khi ở Việt Nam hiện nay vẫn còn phổ biến tồn tại hai loại quan điểm: quan điểm 1) coi tín ngưỡng phân biệt với tôn giáo, tồn tại độc lập với tôn giáo, là cấp độ thấp của tôn giáo; 2) coi tín ngưỡng không phân biệt với tôn giáo, nên không có tín ngưỡng tồn tại một cách độc lập thì ngay trong các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Tôn giáo cũng xuất hiện tình trạng này. Tiêu biểu cho quan điểm thứ nhất là Nguyễn Duy Hinh trong các công trình “Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam”[3], “Thần và quỷ”[4], “Phàm và thiêng” “ một số vấn đề về tôn giáo học”[5]. Ở đây với những chứng lý về sự hình thành các khái niệm ma, thần, quỷ, các luận đề về thiêng – phàm tác giả và những minh chứng về quá trình hình thành lan rộng của hiện tượng lên đồng, tác giả đã chứng minh rằng TGDG như thờ thành Hoàng làng, thờ thánh ở người Việt là một dạng thức tôn giáo có cấu trúc mở và vẫn đang trong quá trình hoàn thiện mà tính không ổn định của nó chính là một biểu hiện. Cũng từ đây ông chủ trương đó là những loại hình tiền tôn giáo.
Tiêu biểu cho quan điểm thứ 2 là Đặng Nghiêm Vạn trong các công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam[6], Tôn giáo hay tín ngưỡng cho rằng tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo. Đó là thành tố quan trọng cấu thành lên tôn giáo[7]. Do đó, “cần xem xét lại” quan niệm đánh giá tín ngưỡng là cấp độ thấp của tôn giáo và thật khó có thể đánh giá được sự cao thấp của một tôn giáo “có tổ chức” so với tôn giáo “không có tổ chức” . Xuất phát từ quan niệm coi tổ chức như một thiết chế chặt chẽ từ TW đến địa phương theo kiểu giáo hội (Phật giáo, hoặc Công giáo) mà Đặng Nghiên Vạn đã quy về loại hình TNDG như là một thành phần của Tôn giáo và tồn tại với tư cách độc lập. Tuy nhiên, nếu chấp nhận sự bình đẳng trong các nền văn hóa thì không có tôn giáo nào cao hơn và tôn giáo nào thấp hơn. Trần Anh Đào trong đề tài “Ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian người Việt đến đời sống xã hội một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” (2011) đã đưa ra và so sánh các quan niệm về tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo đó tác giả chủ trương sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng dân gian (trong đề tài) “chỉ sự sùng bái xuất phát bởi niềm tin mang tính tôn giáo vào các vào thế lực thiêng liêng như linh hồn, tổ tiên, thần linh, ma quỷ; và các các hành vi tôn giáo tương ứng (còn gọi là sự thực hành tín ngưỡng) phổ biến trong xã hội dân gian. Các niềm tin và hành vi đó có mối quan hệ mật thiết với đời sống thường ngày, với phong tục tập quán, nghi lễ, truyền thống văn hóa và xã hội bản địa, thể hiện phần nào tâm thức tôn giáo của một cộng đồng, tộc người hoặc quốc gia » .
Nguyễn Quốc Tuấn trong bài viết Nhận thức lại về các khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo” từ góc độ nghiên cứu tôn giáo[8]  đã đề xuất cách hiểu thứ ba ở Việt Nam về tín ngưỡng và tôn giáo. Ông cho rằng: 1) không có sự phân biệt giữa hai khái niệm tín ngưỡng với tôn giáo, trái lại tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành tôn giáo; 2) các tôn giáo chỉ có khi chúng tạo thành một cộng đồng đạo đức ở những người tin theo; 3) con người có những phương diện tinh thần cho phép nảy sinh ý thức tôn giáo, thông qua những thực thể thiêng, hiện thực siêu kinh nghiệm; 4) tôn giáo là một thể của văn hóa, thông qua hệ thống biểu tượng mà nó đã xác lập tính chất văn hóa ấy. Từ đó, Nguyễn Quốc Tuấn vạch ra một sơ đồ về cấu tạo của tôn giáo là: Tôn giáo = các thực thể thiêng, hiện thực siêu kinh nghiệm, siêu việt - thần thoại – tín tưởng[9] (cũng gọi là tín ngưỡng) – thực hành (thờ cúng, cầu khấn, lễ thức/ nghi thức và lời khấn) – cộng đồng đạo đức (giáo hội và không giáo hội).
Trong một nghiên cứu khác về hiện tượng cụ thể là thực hành “nghi lễ lên đồng …” ở châu thổ bắc bộ VN, Nguyễn Ngọc Mai sau khi nghiên cứu phân tích đặc điểm, cấu trúc bản hội của những người lên đồng, các biểu tượng về thần linh thông qua trang phục và đặc biệt là thực hành nghi lễ với những công năng khác nhau cũng đã bày tỏ rõ quan điểm của tác giả về loại hình từng được gọi là tín ngưỡng thờ mẫu này hoàn toàn có thể coi đó là một dạng tôn giáo dân gian.
Như vậy thì các nhà nghiên cứu khi bày tỏ quan điểm của mình đều có cho thấy các loại hình TGDG ở VN đều có đầy đủ các yếu tố sau: 1) có niềm tin tôn giáo (ở đây không bàn đến chất lượng niềm tin có sâu sắc hay không); 2) có các biểu tượng thiêng (là các thực thể thiêng: linh hồn, thần/ thánh); 3) có các thực hành nghi lễ; 4) có cơ sở thờ tự, tất cả đều là những nội hàm/ yếu tố cơ bản giống như của các tôn giáo lớn nhưng có một nội hàm mà nhiều tác giả lúng túng hay chưa lý giải đó là yếu tố cộng đồng  và vấn đề giáo lý.
Như đã lý giải ở trên thì vấn đề văn tự (giáo lý, giáo luật) là những quy chuẩn mà phải đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện và vấn đề cộng đồng thì không thể hiểu đó là cộng đồng giáo hội mà nên hiểu là cộng đồng cùng niềm tin; cộng đồng đạo đức, còn cộng đồng đó có thể trở thành một thiết chế xã hội chặt chẽ có quyền lực (kiểu giáo hội)  hay chỉ là những tổ chức mở như kiểu “bản hội của các thanh đồng” thì lại phụ thuộc vào các nền văn hóa. Mà bản thân tôn giáo cũng là văn hóa nên không thể soi chiếu vào văn hóa phương Tây làm hình mẫu cho văn hóa phương Đông, cũng như không thể lấu mẫu hình của giáo hội Công giáo làm khuôn mẫu cho tập thể  “hội đồng già làng” tế thần ở VN được, bởi văn hóa vốn dĩ là sự khác nhau chứ không phải là cao hay thấp. Tất nhiên, các tác giả của những công trình này đều thừa nhận về sự hoàn thiện, tính triết lý và hệ thống thần học hoàn hảo của các tôn giáo lớn như Công giáo hay Phật Giáo mà khó có một loại hình TGDG nào có thể sánh được. Tuy nhiên, đối với văn hóa và tâm lý của mỗi tộc người ở VN thì các loại hình TGDG vẫn cứ là thực thể tôn giáo của họ.  Sự thay đổi về nhận thức này đã kéo theo các quan niệm khắt khe về TGDG đã thay đổi. Vì vậy trong quan điểm của Viện nghiên cứu tôn giáo, các loại hình Tín ngưỡng truyền thống đã được hiểu là các tôn giáo truyền thống, hoặc tôn giáo dân gian.
4.2. Các nghiên cứu cụ thể:
  • Nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên
Đặng Nghiêm Vạn khi nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn cũng như vai trò của tôn giáo Việt Nam trong gia đoạn hiện nay (từ 1992 - 1999)[10] đã chỉ ra Đạo thờ tổ tiên chính là hệ thống tôn giáo của dân tộc. Tác giả nhìn nhận việc thờ cúng này theo tuyến huyết thống và lãnh thổ. Đó là sợi dây nối liền quán khứ, hiện tại và tương lai, gắn kết nhà – làng - nước tạo nên một truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Cùng quan điểm này, Nguyễn Quốc Tuấn cho rằng mô  hình  xã  hội  căn  bản  của  người Việt Nam là mô hình: Nhà - Làng - Vùng – Nước, trong đó phân ra ở các cấp độ: Trong  nhà  thì  thờ  cúng  tổ  tiên  trực hệ (tùy theo tộc người mà duy trì theo hệ thống cửu tộc  hay 5 đời hoặc  3 đời; trong làng thì thờ cúng thành hoàng (một tập hợp các vị thần tự nhiên đã  nhân cách hóa cho đến những người khai sơn phá thạch lập làng, các vị  tổ nghề, các vị đại khoa, các võ tướng đánh giặc giữ nước); Trong vùng (hay liên làng) thì thờ chung một vị thần (các vị thần làng và liên làng tùy theo công trạng mà được triều đình sắc phong cho các tước khác nhau hạ, trung, thượng thần. Trong nước thì thờ chung một vị Quốc tổ, mà vị ấy thì đã rõ là Hùng Vương)[11]. Đặng Thế Đại sau khi phân tích các đặc điểm và nội dung của thờ cúng tổ tiên đã đưa ra quan điểm về tín ngưỡng này của người Việt như sau: Thứ nhất, nền tảng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nằm ở bản chất của tín ngưỡng này. Đó là niềm tin vào linh hồn người chết và mối quan hệ vô hình mang tính hai chiều giữa những người sống và người chết. Thứ hai, cơ sở quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của tín ngưỡng này là nền kinh tế tiểu nông gia đình, coi trọng kinh nghiệm, kính trọng người già và niềm tin vào sự phù hộ độ trì của tổ tiên với con cháu. Thứ ba, mặc dù ảnh hưởng tính mẫu mực trong nghi thức thờ cúng tổ tiên của Trung Hoa, nhưng người Việt vốn linh động nên sự tham gia cúng tế của các thành viên trong gia đình/ gia tộc tương đối bình đẳng không cứng nhắc lệ thuộc hoàn toàn vào gia trưởng/ tộc trưởng như người Trung Hoa. Thứ tư, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt tương đối đồng nhất, sự khác biệt giữa các vùng miền là không nhiều. Thứ 5, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trở thành một trong các sức mạnh cội nguồn quan trọng. Đặc biệt tín ngưỡng này có ảnh hưởng sâu sắc tới các tôn giáo khác. Thờ cúng tổ tiên là vấn đề chủ yếu nhất mà mọi tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Tứ Ân hiếu nghĩa v.v…) hay ngoại sinh (Phật giáo, Công giáo, Tin lành v.v…) đều phải tìm cách đối mặt và dung hòa vì nó là phần quan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam.
4.2. Nghiên cứu về TGDG thông qua các hiện tượng thờ thần, thánh
  • Nghiên cứu TGDG thông qua lễ hội làng:
          Khác với các loại hình tôn giáo khác, TGDG ở VN luôn gắn liền với các lễ hội làng, lễ hội vùng miền. ở đó Thần và nghi lễ thờ thần giống như những hạt nhân nuôi dưỡng và làm phái sinh hệ thống trò vui trong hội làng. Từ đó  có nhiều tác giả  đã nghiên cứu về TGDG thông qua Lễ Hội mà Lê Trung Vũ là một điển hình. Cuốn sách Lễ hội Thăng Long Hà Nội[12], 60 lễ hội truyền thống Việt Nam[13] tập hợp các bài giới thiệu ngắn gọn các lễ hội ở Thăng Long Hà Nội và 60 lễ hội trong cả nước của người Việt và một số tộc người thiểu số khác. Đối với mỗi lễ hội các tác giả lại dành phần giới thiệu thông tin chung: đối tượng thờ phụng, địa điểm, thời gian, đặc điểm cơ bản của lễ hội; sau đó mới đi vào mô tả lai lịch hành trạng của các thần, quá trình xây dựng và trùng tu cơ sở thờ tự, nghi thức đám lễ và các trò chơi dân gian. 
          Mặc dù các tác giả đã chỉ ra, Lễ hội/ hội làng có tính quần thể, hoành tráng, tính biểu dương và hiệu triệu; với chức năng phản ánh và bảo lưu truyền thống, chức năng tuyên truyền và giáo dục, chức năng hưởng thụ và giải trí. Nhưng, lễ hội/ hội làng mới chỉ được nhìn nhận từ góc độ văn hóa học, mà chưa phân tích lễ hội với tính chất là một nghi lễ tôn giáo truyền thống ở địa phương với chủ thể là những người dân ở địa phương ấy. Vì thế, lễ hội chỉ được nhìn là một phong tục, một sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng làng xã xuất hiện từ xa xưa mà không thấy đươc vai trò, sự biến động của niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo qua lễ hội/ hội làng.        
  • Nghiên cứu về TGDG thông qua hiện tượng thờ thần thành hoàng làng:
Điển hình của nghiên cứu theo hướng này là công trình “ tín ngưỡng thành hoàng làng VN” của Nguyễn Duy Hinh. Trên cơ sở các tư liệu Hán Nôm (kết quả cuộc điều tra, sưu tầm về Thành Hoàng do Trường Viễn Đông Bác Cổ tiến hành được lưu trữ tại Thư viện viện Nghiên cứu Hán Nôm) cùng hệ thống các thư tịch khác như: Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Bách thần lục, Thần tích Bắc Ninh v.v… cùng với các tư liệu dồi dào của nhiều năm điều tra điền dã, Nguyễn Duy Hinh đã khái quát tín ngưỡng Thành hoàng ở Việt Nam từ nguồn gốc, thần điện, cho tới bản chất của tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam. Đây là một nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về tín ngưỡng Thành hoàng ở Việt Nam từ trước tới nay. Đóng góp quan trọng của nghiên cứu này là chỉ ra bản chất Thành hoàng làng Việt Nam là hoàn toàn khác Thành hoàng Trung Quốc. Theo ông, “Niên đại ra đời Thành hoàng làng khó xác định cụ thể. Chỉ có thể khẳng định đó là thời điểm hình thành các công xã nông thôn gắn liền với việc khai phá đồng bằng lập ấp. Quá trình đó bắt đầu khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên”[14]. Về tên gọi Thành hoàng ông dựa trên mối quan hệ Nho giáo với làng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề tên gọi Thành hoàng:  nhà nước phong thần cho các thần trong làng ở các địa phương, thành hoàng làng trở thành vị thần đứng đầu trong hệ thống bách thần tại mỗi làng. “Thành hoàng làng trở thành quan chức triều đình, một đại vương thay mặt vua trấn giữ địa phương được phân phong đúng như chế độ phân phong công thần của chế độ phong kiến. Khác chăng là Thành hoàng cai quản phần hồn dân làng trong khi lý trưởng cai quản phần xác dân làng”[15].
          Đối với thần điện của Thành hoàng làng, dựa trên các dẫn chứng lịch sử ông cho rằng thần điện của Thành hoàng làng là kết quả của sự dịch chuyển chức năng từ đình trạm (nơi nghỉ chân) thành đình làng (nơi thờ cúng và công sở). Về bản chất: “Tín ngưỡng Thành hoàng có thần điện Mở không có Đấng Tối Cao, có nội hàm tư tưởng Kính và Sợ nhằm mục đích Cầu An cho hiện thế không đạt đến lý luận về thế giới bên kia, có một số nghi thức thực hiện Hèm nhưng không dừng ở đó mà đã tiếp thu hệ thống nghi thức phong kiến, có một tổ chức tín ngưỡng (cộng đồng tôn giáo) đồng nhất với tổ chức xã hội nhưng đã tiếp thu hệ thống tổ chức xã hội phong kiến khác với tổ chức tín ngưỡng tuy vẫn chấp nhận một phần nào chế độ dụng xỉ truyền thống. Tín ngưỡng thành hoàng đã vượt qua phạm trù tôn giáo nguyên thủy mà không phát triển thành tôn giáo nhân tạo, vì vậy mệnh danh là hiện tượng TIỀN TÔN GIÁO”.  Trong kết luận này, có thể thấy được hạn chế của tác giả khi phân tích tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam đó là quan điểm phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo. Coi tín ngưỡng là Tiền Tôn giáo, là hiện tượng thấp hơn của tôn giáo. Đây cũng là quan điểm xuyên xuốt của ông trong các nghiên cứu về TGTT của mình. 
          Tiếp tục hướng nghiên này, Đặng Thế Đại qua nghiên cứu trường hợp Thành hoàng làng Tả Thanh Oai (dựa trên dữ liệu về: Thần tích thành hoàng – Đình thờ thành hoàng – Hội làng), đã tiến hành xử lý, phân tích và khái quát nên một số vấn đề về tín ngưỡng thành hoàng trong đời sống cộng đồng làng Việt nói chung:
       + Về đặc trưng, tín ngưỡng thành hoàng với ngôi đình làng là “đại biểu cho tính toàn thể, tính thống nhất, tính cộng đồng đặc trưng cho làng”[16].
       + Về sự hình thành, thần thành hoàng là một loại hình tín ngưỡng đặc thù của nông thôn Việt, được hình thành “trong điều kiện làng Việt tiếp thu Nho giáo, là sản phẩm của sự dung hòa giữa tín ngưỡng bản địa với Nho giáo, giữa sự tự quản của các cộng đồng làng với sự thống nhất của quốc gia”[17].
       +Về bản chất, dù có sự dung hòa với Nho giáo (do sự thắng thế của Nho giáo trong ý thức hệ phong kiến thống trị), nhưng thực chất của tín ngưỡng thành hoàng chính là “sự tiếp tục tín ngưỡng bản địa thờ thần làng – thần bảo hộ cộng đồng làng”[18].
          Tóm lại, tín ngưỡng thành hoàng làng Việt qua nghiên cứu của Đặng Thế Đại  được tập trung xoay quanh biểu hiện hai mặt: tự quản làng xã và thống nhất quốc gia trong cùng một thiết chế xã hội là làng Việt. Trong bài viết Tính chất hai mặt của tín ngưỡng thành hoàng làng đã chỉ ra sự tồn tại thống nhất giữa yếu tố làng và yếu tố nước trong tín ngưỡng Thành hoàng. Biểu hiện của tính chất này ở các mặt: ở hình ảnh vị Thành hoàng làng, ở ngôi đình làng và ở lễ hội làng. Về bản chất, sự thống nhất này xuất phát từ nhu cầu nội tại của xã hội Việt Nam: sự thích ứng của làng (văn hóa, tín ngưỡng, thiết chế) với nước trong bước phát triển cao của nhà nước phong kiến. Đây chính là kết quả của cuộc “thương thảo vị thế quyền lực” giữa địa phương và nhà nước trong bối cảnh lịch sử yêu cầu.
          * Nghiên cứu về TGDG thông qua thực hành nghi lễ lên đồng hầu bóng
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là Nguyễn Ngọc Mai với “Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị” (2013). Công trình đã chỉ ra được quá trình hình thành, những thay đổi trong thực hành nghi lễ lên đồng thờ Thánh / Thánh mẫu của vùng châu thổ Bắc bộ VN qua các giai đoạn khác nhau. Bằng cách tiếp cận liên ngành và sử dụng các phương pháp luận phù hợp có sự soi dọi các các lý thuyết nghiên cứu là Phân tâm học, mạng lưới xã hội &vốn xã hội; Chủ thể văn hóa, công trình đã chỉ ra được chức năng cơ bản của cộng đồng bản hội của những Thanh đồng và vai trò của Bản hội đó trong việc tạo ra những liên kết bền chặt của cộng đồng những tín đồ thờ Thánh; những tác dụng tích cực của bản hội đối với cuộc sống sinh kế và đời sống tinh thần con người với tư cách nhóm xã hội đặc thù. Đi sâu tìm hiểu những khách thể nghiên cứu có căn tính đặc biệt, người có bệnh lý, giới thứ 3…là những Thanh Đồng, công trình cũng đã chỉ ra được chức năng, công năng của nghi lễ lên đồng xưa và thực hành nghi lễ lên đồng ngày nay với những tác dụng tích cực của nó trong điều trị tâm, sinh lý lệch chuẩn cũng như vai trò của công năng trong thực hành lên đồng đối với việc củng cố niềm tin tôn giáo. Các lớp ý nghĩa của nghi lễ đặc biệt này cũng được quan tâm làm rõ trên các phương diện y học, văn hóa, xã hội và tôn giáo.
          * Nghiên cứu về TGDG ở khu vực miền núi phía Bắc cũng được Vương Duy Quang quan tâm lý giải trong công trình “Văn hóa, Tôn giáo của người Mông ở Hà Giang”. Với tính chất là công trình khảo tả DTH, Vương Duy Quang cũng đã cung cấp khá nhiều các thông tin về tôn giáo của người Hmông ở Hà Giang. Tiếp theo hướng nghiên cứu này năm 2014, Thông qua một nghiên cứu cấp bộ, Nguyễn Ngọc Mai và Nguyễn Bình (2014) đã nghiên cứu, tìn hiểu, so sánh với các tài liệu đã có, dựa trên các hồi ức của các thầy mo tộc người hai tác giả đã cung cấp tương đối các thông tin về “biến đổi tôn giáo truyền thống của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” trong đó những biến đổi về niềm tin, thực hành nghi lễ trong một số loại hình TGDG của một số tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đã được quan tâm, làm rõ.
* Các căn cứ lý luận, thực tiễn về sự hình thành và chất lượng niềm tin tôn giáo và thực trạng những thực hành thờ thần, thánh của người dân ở châu thổ Bắc bộ cũng là một nghiên cứu khác do Nguyễn Ngọc Mai tiến hành và hoàn tất 2016. Bên cạnh đó những nghiên cứu lồng ghép khác về “giá trị cơ bản của tôn giáo dân gian” trên các khía cạnh đạo đức, luân lý; giáo dục; thẩm mỹ và vai trò của nó đối với đời sống tinh thần của con người VN cũng được tiến hành và làm rõ trong công trình “ Phát huy giá trị của tôn giáo trong xây dựng đạo đức và lối sống của người VN”  do Nguyễn Quốc Tuấn làm chủ nhiệm cùng với tập thể các nhà nghiên cứu của Viện tham gia. Đề tài có quy mô cấp nhà nước đã được tiến hành từ năm 2014 và hoàn tất năm 2016.
          * Ngoài ra các khía cạnh khác như tác động của biến đổi TGDG đến  biến đổi & tái cấu trúc văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên cũng được quan tâm chú ý (xem Nguyễn Ngọc Mai 2015); những đúc rút về quá trình hình thành, ý nghĩa xã hội và giá trị nhân văn của hệ thống kinh bổn của một số tôn giáo nội sinh như Cao đài, Hòa Hảo cũng đã và đang được nghiên cứu, khai thác ở khía cạnh văn hóa của Đặng Thế Đại (2015); Các điểm chương về tế tự và quy định của Triều Nguyễn đối với TGDG cũng đã được Phạm Thanh Bằng tập hợp và phân tích trong một nghiên cứu ở quy mô cấp Viện (2015).
4. Một số nhận xét đánh giá chung:
* Những nghiên cứu về TGDG của Viện nghiên cứu tôn giáo trong 25 năm qua dẫu chưa nhiều, song về cơ bản đã thiết lập được những nền tảng căn bản cả về lý luận và thực tiễn bước đầu đã định vị được vị trí, vai trò của TGDG trong đời sống tâm linh, đời sống văn hóa của cộng đồng và đời sống tinh thần của cá nhân người VN phía Bắc.  Làm rõ được nội hàm của TGDG và đưa ra những cách tiếp cận phù hợp. Trong đó có nhiều nghiên cứu có giá trị khi chỉ ra bản chất của một số loại hình TGDG này như hiện tượng thờ thành hoàng làng; hiện tượng lên đồng thờ thánh ở châu thổ Bắc Bộ. Tuy vậy, các nghiên cứu về TGDG của Viện nghiên cứu tôn giáo nói chung vẫn chưa bao phủ hết một cách sâu sắc các loại hình TGDG trên đất Việt Nam, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc, khu vực miền Trung và Nam bộ. Điều này đặt ra và đòi hỏi các thế hệ nghiên cứu TGDG của Viện ngày nay và mai sau vẫn phải tiếp tục nỗ lực quan tâm giải quyết để tìm ra bản chất, mối liên hệ của nó đối với TGDG người Việt phía Bắc; Vị trí, vai trò và chức năng của TGDG các khu vực này đối với đời sống cá nhân, cộng đồng các dân cư tại chỗ; các biến đổi cơ bản về chức năng, vai trò của nó trong điều kiện tình hình xã hội hiện đại ngày nay...
          * Về chất lượng các công trình nghiên cứu về TGDG hiện nay vẫn chưa đồng đều và còn khá nhiều phân tán, một phần vì lực lượng nghiên cứu còn mỏng, lại thiếu nguồn lực và sự đầu tư dài hạn với những chiến lược dài hơi, vì vậy còn nhiều khảng trống của TGDG chưa được quan tâm nghiên cứu đủ và đúng với sự đa dạng của nó trên thực tiễn. Ví dụ những loại hình TGDG khu vực Đông và Tây Nam Bộ; cao nguyên trung phần, Miền Trung VN… và những biến đổi của các loại hình này  kể từ sau 1986 đến nay.
          * Các công bố trên các tạp chí trong nước và quốc tế : Mặc dù các công bố về kết quả nghiên cứu về TGDG trên các tạp chí chuyên ngành trong nước là khá nhiều và đều có chất lượng tốt, nhiều tài liệu ấn hành đã được sự đón nhận của dư luận xã hội song vẫn còn khá hiếm hoi và gần như chưa có công bố nào trên các tạp chí nghiên cứu uy tín trên thế giới. Điều này cũng đặt ra vấn đề về khả năng ngoại ngữ, tầm nhìn và sứ mệnh của các nhà nghiên cứu TGDG Việt Nam trong Viện nghiên cứu tôn giáo cũng như chiến lược để đạt được tầm nhìn và sứ mệnh của Viện nghiên cứu tôn giáo trong việc phổ biến tri thức cũng như những thành tựu nghiên cứu về TGDG VN ra khu vực và thế giới.
          * Phương pháp nghiên cứu và tính kế thừa: Thông qua các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các nghiên cứu về TGDG của Viện nghiên cứu tôn giáo hiện nay đã có bước tiến về phương pháp và có sự kế thừa khá nghiêm túc các công trình của học giả đi trước. Các cách tiếp cận đa ngành, liên ngành đều được quan tâm và thao tác tốt. Nhiều nghiên cứu có ứng dụng phương pháp luận trong phân tích và lý giải hiện tượng tôn giáo; giảm bớt nghiên cứu mô tả, chú ý vào bóc tách bản chất, tìm hiểu chức năng và công năng của TGDG đã và đang khiến cho nhiều công trình nghiên cứu về TGDG đạt được những giá trị đích thực được trong giới quan tâm chú ý và hoan nghênh. Tuy nhiên, đây là hướng nghiên cứu mới và khó vì vậy đội ngũ cán bộ trẻ gặp không ít khó khăn khi thao tác và làm chủ được, vì vậy vẫn chưa phổ biến trong các kết quả nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu trẻ.
* Đặc biệt khi nghiên cứu TGDG ở VN thì Background về văn hóa, về Hán nôm cũng là những lợi thế rất lớn cho nhà nghiên cứu TGDG, nhưng để có thể sử dụng những nền tảng, công cụ này vào nghiên cứu TGDG thì lại đòi hỏi thời gian, kinh nghiệm và khả năng làm chủ tư liệu, và cả tố chất của người làm nghiên cứu nữa vì thế các nhà nghiên cứu trẻ mới vào nghề sẽ rất khó khăn khi lập luận và thao tác minh bạch các vấn đề mình định nghiên cứu và thể hiện. Trong khi đó thì sự thay nhu cầu của cuộc sống, đời sống vật chất, sở thích, các cơ hội… của xã hội ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với 30 năm về trước, điều này cũng đặt ra những thách thức với người làm nghiên cứu và nghề làm nghiên cứu. Đặc biệt khi xã hội còn đầy biến động, lý tưởng thiếu điểm tựa để xác định và tạo nền tảng; Vấn đề tôn giáo vẫn còn là khá nhạy cảm ở VN, thu nhập từ nghiên cứu còn khá eo hẹp so với các ngành nghề khác, thế hệ nghiên cứu trẻ ngày nay lại bị chi phối bởi nhiều mối lo kinh tế, gia đình… vì vậy tạo ra không ít trở ngại cho ngành nghiên cứu tôn giáo nói chung và TGDG nói riêng.
6. Kết luận:
Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Bên cạnh người Việt là tộc người đa số còn có các tộc người thiểu số sinh sống trải khắp các vùng miền.  Bên cạnh các tổ chức tôn giáo, các tôn giáo lớn đã được nhà nước công nhận còn có những tôn giáo bản địa gắn với truyền thống hồn linh giáo. Có thể nói, tâm thức đa/ phiếm thần (Đặng Nghiêm Vạn) của người dân Việt Nam đã hình thành nên một truyền thống sinh hoạt tôn giáo đa dạng. Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào người ta cũng có thể quan sát thấy, nhận diện ra, cảm nhận được các hành vi tôn giáo, cũng như cả thế giới thiêng mênh mông trong tâm tưởng của họ. Với những thành tự đã đạt được và những (*) vấn đề đã đặt ra ở trên cho thấy nghiên cứu tôn giáo ở VN nói chung, nghiên cứu TGDG nói riêng là một nghề, nghiệp không dễ. Để có thể thành công, thành nhân và tạo ra được những công trình khoa học có dấu ấn cá nhân đòi hỏi người làm công tác nghiên cứu TGDG không chỉ phải có tính khách quan, dám dấn thân, có khả năng suy xét để minh định các vấn đề nghiên cứu, mà còn cần cả năng lực làm chủ hệ thống các công cụ đó là Hán văn, ngoại ngữ và thuần thục các phương pháp nghiên cứu cũng như có một môi trường nghiên cứu tốt, ở đó mọi chính kiến đều được bày tỏ, ủng hộ và tôn trọng với một chiến lược đầu tư nghiên cứu dài hơi và cả những nhà khoa học đầu đàn (theo đúng nghĩa) dẫn dắt nữa.
 
Tài liệu tham khảo
  1. Toan Ánh (1992), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng - quyển hạ), Nxb TPHCM
  2. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Đồng tháp
  3. Đặng Thế Đại (2012), Tín ngưỡng Mẫu Liễu nhìn từ góc độ văn hóa học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, năm 2012, tr.15 – tr.25
  4. Nguyễn Duy Hinh (1995), Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, HN
  5. Nguyễn Duy Hinh (2003), Thần và quỷ, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, tr.21-29.
  6. Nguyễn Duy Hinh (2005 ), Phàm và thiêng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr.11-18.
  7. Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1995), 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
  9. Nguyễn Ngọc Mai (2013) Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị, Nxb VH
  10. Nguyễn Ngọc Mai, Nguyễn Bình ( 2014) Biến đổi tôn giáo truyền thống ở các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc. Đề tài cấp bộ, Viện NCTG 2014.
  11. Nguyễn Ngọc Mai (2014) Biến đổi tôn giáo ở Tây nguyên và những ảnh hưởng đến tái cấu trúc Tôn giáo truyền thống. Tc nghiên cứu tôn giáo số 6
  12. Nguyễn Ngọc Mai (2016) Tìm hiểu giá trị của tôn giáo truyền thống ở VN, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 3.
  13. Vương Duy Quang (2005), Văn hóa tâm linh người Hmông ở Việt Nam: Truyền thống và hiện tại, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.
  14. Vương Duy Quang, Tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3&4, 2009.
  15. Chu Văn Tuấn và các tác giả ( 2015) Tôn giáo và phát triển bền vững ở Tây Nguyên, Đề tài cấp nhà nước. Viện NCTG.
  16. Nguyễn Quốc Tuấn (2004), Mẫu Liễu Hạnh qua góc nhìn tôn giáo học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6, năm 2004, tr.50 – tr.59
  17. Nguyễn Quốc Tuấn (2011), Bàn thêm về tín ngưỡng tôn giáo bản địa Việt Nam qua sự kiện ngày quốc lễ Giỗ tổ Hùng Vương, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 7, năm 2011, tr.3 – tr.15
  18. Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Nhận thức lại về các khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo” từ góc độ nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8, tr.9.
  19. Nguyễn Quốc Tuấn và các tác giả (2015), Phát huy giá trị của tôn giáo trong xây dựng đạo đức lối sống của người VN, đề tài cấp nhà nước.
  20. Trần Ngọc Thêm (1990) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP HCM
  21. Ngô Đức Thịnh (1996), Đạo Mẫu ở Việt Nam. Nxb Văn hoá thông tin.
  22. Ngô Đức Thịnh (cb.2004), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc
 người ở VN và Châu Á, Nxb Khoa học xã hội.
  1. Ngô Đức Thịnh (cb, 2001) Tín ngưỡng & văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb KHXH.
  2. Đặng Nghiêm Vạn (cb, 2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia
  3. Đặng Nghiêm Vạn (2007), Tôn giáo hay tín ngưỡng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, tr.3-13.
  4. Lê Trung Vũ (chủ biên, 2001), Lễ hội Thăng Long Hà Nội, Nxb Hà Nội
  5. Lê Trung Vũ (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb KHoa học xã hội, Hà Nội
Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý, Lưu Kiếm Thanh (1999), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
 

[1] Đặng Nghiêm Vạn (2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.25.
[2] Nt, tr.28.
[3] Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4] Nguyễn Duy Hinh (2003), Thần và quỷ, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, tr.21-29.
[5] Nguyễn Duy Hinh (2005 ), Phàm và thiêng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr.11-18.
[6] Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
[7] Đặng Nghiêm Vạn (2007), Tôn giáo hay tín ngưỡng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, tr.3-13.
[8] Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Nhận thức lại về các khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo” từ góc độ nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8, tr.9.
 
[9] Nguyễn Quốc Tuấn trong bài viết Về mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc và tôn giáo ngoại sinh, in trong Bộ Văn hóa thông tin (1999), Tín ngưỡng – Mê tín, Nxb Thanh niên, Hà Nội, đã chủ trương dùng từ “tín tưởng” thay cho “tín ngưỡng”: “riêng chúng tôi, thuật ngữ được dùng trong trường hợp phân tích của mình lại là tín tưởng mang tính tôn giáo mà không là tín ngưỡng. Thuật ngữ tín ngưỡng được chúng tôi coi là xác đáng hơn khi nói về tôn giáo” (tr.133).
[10] Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên, 2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia
[11] Nguyễn Quốc Tuấn (2011), Bàn thêm về tín ngưỡng tôn giáo bản địa Việt Nam qua sự kiện ngày quốc lễ Giỗ tổ HÙng Vương, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 7, năm 2011, tr.3 – tr.15
[12] Lê Trung Vũ (chủ biên, 2001), Lễ hội Thăng Long Hà Nội, Nxb Hà Nội
[13] Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1995), 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[14] Nguyễn Duy Hinh, Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, sđd, tr 374
[15] Nguyễn Duy Hinh, Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, sđd, tr. 375
[16] Nt, tr.27.
[17] Nt, tr.29.
[18] Nt, tr.29.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Các giải thưởng TS Nguyễn Ngọc Mai đã đạt được

1. Các kết quả nghiên cứu được áp dụng trong thực tiễn   TT Tên công trình Hình thức, quy mô, địa chỉ áp dụng Thời gian áp dụng 1 Những giải pháp quản lý cai nghiện và sau cai Áp dụng trong quản lý cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện của thành...

Báo thể thao và văn hóa phỏng vấn TS Nguyễn Ngọc Mai
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy nội dung của trang web KhaiTue.Edu.Vn của TS Nguyễn Ngọc Mai như thế nào?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập96
  • Hôm nay5,172
  • Tháng hiện tại99,626
  • Tổng lượt truy cập984,429
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây